- Tuyệt, ông Lestrade, thật là tuyệt! - anh thốt
lên. - Nhưng tôi chưa rõ ông lý giải như thế nào
việc mấy pho tượng bị đập nát.
- Lại mấy pho tượng! Ông không gạt bỏ được mấy
pho tượng ấy ra khỏi đầu sao. Rốt cục, đấy chỉ
là chuyện vó vẩn. Chính vụ án mạng mới là cái
chúng ta thật sự quan tâm, và tôi có thể nói với
ông là tôi đã nắm được mọi đầu mối
- Thế bước tiếp theo ông định làm gì?
- Hết sức đơn giản. Tôi cùng ngài Hill đến khu
phố ý Đại Lợi, tìm cho ra tên trong ảnh nọ và
bắt hắn vì tội giết người. Ông cùng đi với chúng
tôi chứ?
- Có lẽ không đâu. Tôi có cách đơn giản hơn nhiều.
Tôi rất mong đêm nay ông cùng đi với chúng tôi,
tôi có thể sẽ giúp ông bắt được hắn.
- ở khu phố ý Đại Lợi ư?
- Không. Theo tôi, tìm bắt hắn ở Chiswick là
chắc hơn cả.
Ông Lestrade, nếu đêm nay ông đi cùng tôi đến
Chiswick thì tôi hứa ngày mai sẽ đi với ông đến
khu phố ý Đại Lợi. Hoãn lại một tí đâu có hại
gì. Anh Watson, trong lúc chờ đợi, anh làm ơn
bấm chuông gọi giúp người đưa thư vì tôi muốn
gửi gâp một bức thư rất hệ trọng.
Tối hôm đó Holmes lục tìm các chồng nhật báo
cũ chất đầy ắp cả một phòng trong nếp nhà hai
chúng tôi đang ở. Cuối cùng rồi anh cũng ra với
chúng tôi, mặt rạng rỡ vẻ đắc thắng, nhưng anh
chẳng hé răng nói gì với cả tôi lẫn viên thanh
tra về những kết quả vừa khám phá. Tôi đã theo
sát anh từng bước chân trong suốt tiến trình điều
tra vụ này. Vì vậy, tuy chưa thể biết rõ mục tiêu
cuối cùng chúng tôi đang theo đuổi, tôi vẫn hiểu
mười mươi rằng Holmes hy vọng sẽ tóm được tên
tội phạm đang cố tìm mọi cách đoạt hai pho tượng
còn lại, mà một, theo tôi nhớ, hiện đang nằm tại
Chiswick. Không còn ngờ vực gì nữa, mục đích chuyến
đi của chúng tôi đêm nay là bắt quả tang hắn ta.
Tôi chẳng ngạc nhiên khi Holmes nhắc tôi nên mang
theo cả khẩu súng ngắn ưa thích của tôi.
Mười một giờ, một chiếc xe ngựa đã đậu trước
cổng nhà. Chúng tôi lên xe, đến một nơi nằm bên
kia cầu Hammer Smith. Sau một quãng đi bộ, chúng
tôi đã đến một con đường yên tĩnh với những toà
nhà đẹp mắt, xây trên từng khoảng đất riêng, cách
biệt nhau. Nhờ ánh đèn đường, tôi đọc được hai
chữ Laburnum Lodge trên cổng hậu một tòa nhà.
Chủ nhân chắc chắn đã đi nghỉ, vì toàn bộ ngôi
nhà đang chìm trong bóng tối, ngoại trừ một khung
cửa sổ ngay bên trên cửa chính dẫn vào tiền sảnh,
hắt một quầng sáng lẻ loi xuống một lối đi trong
vườn. Một dãy rào gỗ ngăn khu vườn với đường phố,
hắt một dải bóng tối dày dặc vào phía trong. Chúng
tôi chọn đó làm nơi ẩn nấp.
- Tôi e là anh sẽ phải đợi lâu đây, - Holmes
ri tai tôi.
- Nhưng tôi dám đánh cược hai ăn một là chúng
ta sẽ được đền bù xứng đang cho những nỗi vất
vả mà chúng ta đã trải qua.
Nhưng hoá ra chúng tôi chẳng phải đợi lâu như
Holmes đã nghĩ, và kết cục thật bất ngờ và kỳ
lạ. Thình lình, không có một tiếng động nào báo
trước, cảnh cổng vườn bật mở, và một bóng đen
nhanh nhẹn, khéo léo chạy vụt vào theo lối mòn
trong vườn. chúng tôi thấy cái bóng đó lướt qua
cái quầng sáng trên cửa sổ hắt xuống cửa chính,
và biến mất vào bóng toà nhà. Bốn bề im ắng khá
lâu. chúng tôi nín thở chờ đợi, rồi một tiếng
động khẽ vọng tới: cánh cửa sổ mở ra. Tiếp đó,
không còn nghe một tiếng động nào nữa, và tất
cả lại lặng ngắt một hồi lâu. Bóng đen nọ lẻn
vào nhà. Bỗng chúng tôi thấy một ánh đèn loé sáng
trong phòng. Cái hắn tìm chắc không có ở đó, vì
chúng tôi lại thấy ánh đèn loé sáng tại một chỗ
khác, rồi một chỗ khác nữa.
- Nào, chúng ta hãy tới cửa sổ để ngỏ. Chúng
ta sẽ tóm hắn lúc hắn leo ra, - Lestrade khẽ nói.
Nhưng chúng tôi chưa kịp tới nơi dự tính thì
gã nọ đã xuất hiện. Khi hắn ra đến quầng sáng,
chúng tôi thấy hắn đang cắp trong nách một vật
màu trắng. Hắn đưa mắt nhìn quanh. Quay lưng về
phía chúng tôi, hắn đặt vật đang cắp dưới nách
xuống, và ngay sau đó, bỗng vang lên một tiếng
đập mạch, rồi tiếp theo là những tiếng lại xạo.
Hắn mải miết với việc đang làm đến mức không nghe
thấy tiếng bước chân chúng tôi lướt trên mặt cỏ.
Holmes nhảy chồm lên lưng hắn như một con hổ,
và chỉ một chớp mắt sau, Lestrade và tôi đã tóm
lấy cổ tay hắn. Khi chúng tôi lật ngửa hắn lại,
tôi thấy hắn đang nhìn chúng tôi một cách hằn
học. Và tôi nhận ra kẻ bị bắt chẳng phải ai khác,
mà chính là người đàn ông trong ảnh.
Nhưng Holmes chẳng hề quan tâm đến kẻ bị bắt.
Anh chỉ chăm chú xem pho tượng Napoleon mà gã
nọ vừa lấy trộm trong nhà ra. Pho này cũng giống
như pho mà chúng tôi thấy sáng nay, và cũng đã
bị đập vụn từng mảnh. Thận trọng, Holmes đưa từng
mảnh vỡ ra chỗ sáng xem xét, nhưng những mảnh
thạch cao đó xem ra chẳng khác gì nhau. Anh vừa
xem xong thì ánh đèn trong tiền sảnh bỗng sáng
rực. Cửa mở, và từ trong nhà bước ra một người
đàn ông vui vẻ, ăn mặc tề chỉnh, tự giới thiệu
mình là chủ nhà.
- Ông chắc hẳn là Mi.Josiah Brown? - Holmes nói.
- Vâng, thưa ngài. Còn ngài chắc hẳn là ngài
Holmes? Tôi đã nhận được thư ngài do người đưa
thư chuyển tới, và tôi đã làm đúng như lời ngài
dặn trong thư. Chúng tôi đã khoá chặt các cửa
phòng và đợi mọi diễn biến. Tôi rất mừng là ngài
đã tóm được hắn. Tôi hy vọng các ngài sẽ quá bộ
vào nhà nghỉ một lát trước lúc ra về.
Nhưng Lestrade sốt ruột, chỉ muốn đưa gấp tên
trộm về đồn cho chắc ăn, nên chỉ vài phút sau,
ba chúng tôi và tên trộm đã yên vị trên xe về
lại Luân Đôn. Tên trộm không hề hé răng thốt ra
một lời nào, mà chỉ hằn học nhìn chúng tôi từ
sau mái tóc rũ xuống trán. Có một lần, khi tay
tôi nằm trong tầm với, hắn vụt cúi xuống định
ngoạm. Chúng tôi lưu lại đồn cảnh sát khá lâu
để chờ kết quả khám xét người hắn, nhưng chảng
tìm thêm đựoc gì ngoài một vài đồng xu trong túi
và một con dao dài, trên cần còn nguyên vết máu
chưa kịp xỉn lại.
- Thôi ổn rồi, - Lestrade nói khi chia tay chúng
tôi. - Ngài Hill biết mặt tất cả các kiều dân
khu này, nên sẽ cho chúng ta biết họ tên hắn.
Ông sẽ thấy giả thuyết của tôi về bọn Mafia là
chính xác một trăm phần trăm. Dù sao tôi cũng
biết ơn ông đã mách giúp tôi cách tóm cổ hắn.
Có điều,tôi vẫn chưa hiểu hết làm thế nào mà ông
biết nơi hắn sẽ xuất đầu lộ diện
- Tôi e rằng muốn giải thích phải đợi dịp khác,
vì bây giờ đã khuya quá rồi, - Holmes nói. - Hơn
nữa, vẫn còn một vài tình tiết tôi chưa khám phá
ra, và đây là một trong những vụ đáng để chúng
ta thực hiện đến nơi đến chốn. Nếu ngày mai, ông
chịu khó ghé lại nhà tôi vào lúc sáu giờ, tôi
nghĩ tôi có thể cho ông thấy: cho tới lúc này
ông vẫn chưa hiểu hết điểm mấu chốt của vụ này.
Đó mới chính là những điểm khiến vụ này là vụ
án độc đáo nhất lịch sử tội phạm.
Tối hôm sau, khi gặp lại nhau, Lestrade đã cho
chúng tôi biết hàng loạt thông tin về kẻ bị bắt.
Hoá ra tên hắn là Beppo, còn họ thì không rõ.
Có thời, hắn từng là thợ đúc tượng giỏi, làm ăn
lương thiện. Nhưng về sau hắn đã gây nên những
vụ phạm pháp. Hắn từng hai lần ngồi tù, một lần
vì ăn cắp vặt, lần sau thì như các ông đã biết,
vì tội đâm trọng thương một đồng bào của hắn.
Hắn rất thạo tiếng Anh. Nhưng lý do nào khiến
hắn đập nát những pho tượng thì chưa rõ: hắn không
chịu trả lời bất cứ câu hỏi nào về chuyện này.
Cảnh sát đã phát hiện được rằng những pho tượng
mà hắn đập nát có thể đều do chính tay hắn làm
ra, vì hắn từng làm loại công việc này tại hãng
Gelder và Cty. Tất cả những thông tin này, phần
nhiều chúng tôi đều biết cả rồi, nhưng Holmes
vẫn lịch duyệt lắng nghe; có điều tôi vốn biết
rõ anh, nên tôi hiểu rằng ý nghĩ anh đang đổ dồn
vào một chuyện khác. Bỗng anh đứng bật dậy, mắt
sáng rực khi nghe vang lên tiếng chuông gọi cửa
dưới nhà. Một phút sau, có tiếng chân bước lên
cầu thang, rồi một người đàn ông đứng tuổi, mặt
đỏ gay, bước vào, tay phải xách theo một cái túi.
Ông ta đặt cái túi lên bàn, rồi lên tiếng:
- Đây có phải là nhà ngài Holmes không?
Bạn tôi mỉm cười cúi chào.
- Nếu tôi không nhầm, ông là Sandeford ở Reading?
- anh lên tiếng.
- Vâng, thưa ngài, có lẽ tôi đến hơi muộn, nhưng
không có chuyến tàu nào thuận tiện hơn. Trong
thư ông có yêu cầu tôi nhượng lại pho tượng bán
thân mà tôi đang sở hữu.
- Quả đúng như vậy.
- Tôi có đem theo thư ông đây. Ông viết:“ Tôi
muốn có một bản sao pho tượng bán thân Napoleon
do Devine tạc và tôi sẵn sàng trả mười bảng để
mua lại pho tượng ông hiệu sở hữu. Có đúng vậy
không ạ?
- Chính thế.
- Tôi rất ngạc nhiên khi đọc thư ông, vì tôi
không thể hình dung được nhờ đâu mà ông biết được
tôi có pho tượng như thế.
- Ông ngạc nhiên là phải thôi, nhưng chuyện này
có thể giải thích hết sức đơn giản. Ông Harding,
chủ hiệu Harding Brothers nói là đã bán phúc bản
cuối cùng của pho tượng cho ông, và có cho tôi
biết địa chỉ của ông.
- Thì ra là vậy. Thế thì tôi có mang theo pho
tượng như ông đã yêu cầu. Nó đây này!- Ông ta
đã mở túi xách và mãi lúc này chúng tôi mới được
thấy trên bàn chúng tôi một pho tượng nguyên vẹn,
chứ từ trước đến giờ chúng tôi chỉ toàn thấy những
mảnh vụn.
Holmes rút trong túi ra một tờ giấy và đặt lên
bàn tờ giấy bạc mười bảng.
Ông Sandeford, ông làm ơn ký vào tờ giấy này
trước sự chứng kiến của các vị đây. Trong giấy
xác nhận rằng ông chuyển nhượng cho tôi mọi quyền
lợi có thể có đối với pho tượng. Cám ơn ông Sandeford.
Đây, xin ông nhận lấy tiền và chúc ông một buổi
tối tốt lành.
Khi vị khách đã đi khuất, Holmes liền lôi trong
ngăn kéo ra một tấm vải trắng tinh và trải lên
bàn. Rồi anh đặt pho tượng vừa mua vào chính giữa
tấm vải. Xong xuôi, anh giờ cao gậy, giáng một
cái thật mạnh vào đỉnh đầu Napoleon. Pho tượng
vỡ vụn ra từng mảnh. Holmes háo hức cúi xuống
xem xét các mảnh vỡ. Lát sau, anh reo lên đắc
thắng và giơ cao một mẩu thạch cao bọc bên ngoài
một vật tròn tròn sẫm màu.
- Thưa các vị, anh reo lên - xin được giới thiệu
với các vị viên ngọc đen nổi tiếng của dòng họ
Borgia.
Lestrade và tôi ngồi lặng người đi một lúc, rồi
cả hai cùng vỗ tay hệt như vừa xem xong một vở
kịch. Má Holmes vốn tái nhợt giờ vụt ửng hồng.
Anh cúi chào chúng tôi như một diễn viên bậc thầy
đáp lại lòng ngưỡng mộ của khán giả. Chỉ trong
những khoảnh khắc đó Holmes mới tỏ ra là một nhân
viên rất người, rất thích được ngưỡng mộ và thán
phục, chữ không phải là một cái máy giỏi suy luận.
- Vâng, thưa các ngài, - anh nói- đây chính là
viên ngọc lừng danh Thế giới. Tôi đã có cái may
mắn được theo dõi hành trình của viên ngọc quí
từ phòng ngủ của Quận công xứ Lolonna trong khách
sạn Darce Hotel, nơi nó bị mất, cho tới khi nó
chui vào pho tường cuối cùng trong số sau pho
Napoleon do hãng Gelder và Cty tại Stepney đúc
ra. Ông Lestrade, chắc ông còn nhớ vụ xì căng
đan nổ ra sau ngày viên ngọc quí này mất tích,
và những nỗ lực tìm kiếm vô vọng của cảnh sát
Luân Đôn. Chính tôi cũng được mời đến làm cố vấn
cho họ trong vụ này, nhưng tôi đã không làm sáng
tỏ được gì. Người ta nghi cho cô hầu gái của Quận
chúa. Cô này người ý, và người ta cũng phát hiện
ra rằng cô ta có một người anh ở Luân đôn, nhưng
chúng tôi không tìm ra dược bất cứ một mối liên
hệ nào giữa hai người. Cô ta tên là Lucretia Venucci,
và tôi tin chắc rằng chính gã Pietro bị giết cách
đây hai hôm là anh cô ta. Tôi dò tìm ngày tháng
trong đống báo cũ và thấy rằng viên ngọc bị mất
đúng hai ngày trước hôm Beppo bị bắt vì tội mưu
sát. Hắn bị bắt ngay tại xưởng Gelder và Cty đúng
vào thời điểm những pho tượng kia đúc ra. Beppo
đang giữ viên ngọc. Có thể hắn đánh cắp của Pietro,
hoặc hắn là tòng phạm của Pietro, hoặc hắn làm
trung gian giữa Pietro và em gái hắn ta. Thực
ra khả năng nào là đúng, đối với chúng ta không
hệ trọng.
- Cái chính là hắn có viên ngọc và đang giữ viên
ngọc trong người lúc bị cảnh sát truy đuổi. Hắn
đến cái xưởng làm tượng mà hắn đang làm việc,
và hắn biết mình chỉ còn vài phút để giấu cái
báu vật vô giá ấy, nếu không cảnh sát sẽ tìm thấy
nó khi khám xét người hắn. Lúc sáu pho tượng Napoleon
bằng thạch cao đang hong ở lối đi, trong đó có
một pho còn mềm. Vốn là một tay thợ giỏi, trong
chớp mắt Beppo đã tạo được một cái hốc nhỏ, ấn
viên ngọc vào đó, rồi với vài động tác hắn đã
có thể trám ngay được cái hốc kia. Quả không còn
một nơi cất giấu nào tốt hơn. Không một ai có
thể tìm ra viên ngọc được nữa. Nhưng Beppo bị
kết án một năm tù, và trong thời gian đó sáu pho
tượng kia được bán đi khắp Luân đôn. Ra tù, hắn
không thể biết báu vật nọ hiện nằm trong pho tượng
nào. Bây giờ chỉ còn cách đập vỡ từng pho một
mới biết được vì dù có lắc mạnh viên ngọc cũng
không gây được tiếng động nào: khi thạch cao còn
ướt, viên ngọc có thể bị dính chặt ở bên trong,
và sự thực quả đúng như vậy. Nhưng Beppo không
nản lòng. Hắn thực hiện một cuộc tìm kiếm thật
tài tình. Qua người em họ làm cho Gelder, hắn
biết được những pho tượng ấy đã được bán cho hãng
nào. Hắn cố xin một chân ở hiệu Morse Hudsson
và nhờ đó đã lần ra được dấu tích của ba pho.
Tiếc thay trong cả ba pho ấy đều không thấy có
viên ngọc. Sau đó, nhờ một nhân viên người ý,
hắn đã dò ra được ba pho còn lại hiện ở đâu. Pho
thứ nhất ở nhà ông Harker. Tại đây Beppo bị Pietro
theo dõi. Tên này vốn coi hắn như kẻ chịu trách
nhiệm về vụ mất viên ngọc, Beppo đã hạ sát tên
này trong trận ẩu đả sau đó.
- Nếu chúng đồng loã với nhau thì tại sao Pietro
lại phải mang theo tấm ảnh?- tôi hỏi.
- Đó là một phương tiện để hỏi dò người khác
xem họ có nhận ra người trong ảnh không. Lý do
chỉ có vậy. Sau khi gây án mạng, tôi đoán chắc
Beppo nhất định phải hành động khẩn trương hơn,
chứ không thể chần chứ. Hắn sợ cảnh sát khám phá
được điều bí mật của hắn, nên hắn phải làm gấp
trước khi bị cảnh sát biết. Tất nhiên ở thời điểm
đó, tôi chưa thể nói rằng hắn không tìm thấy viên
ngọc. Tôi cũng chưa thể kết luận đích xác rằng
hắn đang tìm viên ngọc. Nhưng tôi biết chắc rằng
hắn đang tìm một vật gì đó, vì hắn phải mang pho
tượng qua mấy nhà liền để tìm một chỗ nào đó có
ánh đèn. Bấy giờ chỉ còn hai pho, nên dĩ nhiên
hắn phải tìm pho ở Luân Đôn trước tiên. Vì thế
tôi phải báo trước với chủ nhà để tránh một thảm
kịch thứ hai. Và ở đó chúng ta đã thu được kết
quả mỹ mãn nhát. Lúc này, dĩ nhiên, tôi đã biết
chắc cái mà chúng ta đang theo đuổi chính là viên
ngọc Baorgia. Tên kẻ bị giết đã giúp tôi tìm ra
mối liên hệ giữa các sự việc với nhau. Cuối cùng
chỉ còn một pho tượng độc nhất - pho ở Reading
- và chắc chắn viên ngọc phải nằm ở đó. Tôi đã
mua nó từ tay chủ nhân trước sự chứng kiến của
các vị, và viên ngọc giờ này đã ở đây.
Chúng tôi ngồi im lặng một lúc.
- ấy đấy - Lestrade lên tiếng - tôi đã từng được
chứng kiến ông xử lý nhiều vụ án, ông Holmes ạ,
nhưng từ lúc hành nghề tới giờ, tôi chưa hề được
thấy một vụ được xử lý một cách tài tình như vụ
này. Nếu ngày mai ông có nhã ý quá bộ đến Scotland
yard thì tôi tin rằng không một ai, kể từ ông
thanh tra già nhất đến anh nhân viên trẻ nhất,
không lấy làm sung sướng được bắt tay ông.
- Cám ơn ông! - Holmes nói. - Cám ơn ông! - Và
khi anh quay đi tôi có cảm giác xúc động hơn bất
cứ lúc nào mà tôi từng được chứng kiến. Lát sau,
anh đã lại trở thành con người có cách suy nghĩ
lạnh lành và thực dụng như cũ.
- Watson, cất giúp viên ngọc vào chỗ an toàn
- anh nói. Tạm biệt ông Lestrade. Nếu sau này
ông có gặp một vấn đề nhỏ nhặt nào, tôi sẽ lấy
làm sung sướng được góp với ông một vài ý nhỏ
để giúp ông tìm giải pháp.