”ý nghĩ
đầu tiên của tôi là có sự dan díu giữa cô Ma-ri
và ông lính già, và cô này hẳn đã ít nhiều thổ lộ
với người vợ. Điều đó giải thích rõ về cơn tức giận
khi trở về nhà cũng như những lời chối bỏ của cô
gái trong cuộc. Và điều đó cũng không mâu thuẫn
lắm với những từ mà 3 người giúp việc nghe được.
Nhưng lại có một người tên là David, lại có sự trìu
mến của ông đại tá đối với vợ, và sau chót còn có
sự lẻn vào của một người đàn ông khác. Thật khó
mà chọn ra đường để tiến hành điều tra. Dù sao đi
nữa, tôi không thiên về việc cô Ma-ri có ”tình ý“
với ông đại tá, nhưng tôi lại vững tin rằng chính
cô ấy là người biết rõ sự bí mật vì sao bà Bát -
cơ thình lình thay đổi tính khí. Vậy là tôi tìm
tới nhà cô Ma-ri, giải thích rằng tôi tin chắc là
cô biết rõ những sự việc, và tôi đã báo cho cô biết
là bà Bát cơ sẽ bị đặt vào ghế của bị cáo về tội
ám sát chồng, nếu nội vụ được làm sáng tỏ.
Ma-ri là một cô gái bé nhỏ, thanh khiết, có cặp
mắt e lệ và mái tóc vàng hoe. Sau khi nghe chuyện,
cô ngồi suy tư trong một lúc, rồi quay sang phía
tôi và với dáng vè của người đã có một quyết định
dứt khoát:
- Tôi đã hứa với bạn tôi rằng tôi sẽ không nói
ra bất cứ điều gì. Nhưng nay bà ấy lâm trọng bệnh
và đang trên bờ của sự tù tội, vậy thì tôi không
thể làm thinh. Thưa ông, tối thứ hai đó chúng
tôi từ Hội quán trở về. Lúc ấy vào khoảng chín
giờ kém mườilăm. Khi băng ngang qua đường Hudsson
- một con đường rất lớn và rất yên tĩnh- tôi thấy
một người đàn ông tiến lại phía chúng tôi : lưng
rất còng và đeo một cái hộp chéo qua vai, đầu
cúi thấp và bớc đi với hai đầu gối co gấp lạ.
Ông ta ngước mắt lên đúng vào lúc chúng tôi bước
vào trong cái vòng ánh sáng của ngọn đèn đường.
Ngay tức khắc, ông ta đứng lại và kêu lên bằng
một giọng khủng khiếp:“ Lạy Chúa tôi, đây đúng
là Nancy!“ Bà Bát - cơ bỗng tái mét. Bà hẳn đã
sụp xuống nếu con quái vật đó không đỡ lấy bà.
Tôi trực kêu cứ, nhưng bà lại dịu dàng nói với
người đàn ông.
- Ha-ri, em cứ tin rằng anh đã chết từ ba chục
năm qua.
- Tôi đã từng bị chết! - người kia trả lời.
Thật là kinh khủng khi nghe cái ngữ điệu trong
tiếng nói của ông ta. Ông có một bộ mặt rám nắng,
đáng lo ngại, với một ánh chói trong tia mắt.
Tóc, râu má đã lấm tấm những sợi xám. Những nếp
nhăn, những vết nhăn hằn trên mặt ông.
- ”Hãy đi tiếp một quãng, em gái“! Bà Bát - cơ
bảo tôi. ”Chị muốn nói chuyện với ông đây. Không
có gì phải lo sợ cả“. Bà nói với vẻ quả quyết,
nhưng bà vẫn còn tái xanh.
Tôi đi trước một qũng để cho hai người tự do
nói chuyện trong vài phút. Sau đó bà đi xuống
phố. Cặp mắt bà long lanh. Tôi thấy người dàn
ông khốn khổ đứng lại bên ngọn đèn đường và vung
nắm đấm lên không khí, tựa hồ như ông ta bị điên
vì tức giận. Bà không nói một lời nào cho tới
khi chúng tôi về đến cửa nhà tôi. Lúc đó bà mới
nắm lấy bàn tay tôi, yêu cầu tôi đừng nói gì với
bất cứ ai về cuộc gặp gỡ này.
- Đó là một người quen cũ của chị, nay lại hiện
ra.
Tôi hứa, bà hôm hôn tôi. Giờ đây vì lợi ích của
bà, tất cả chuyện đó phải được biết đến.
”Anh Watson, những lời khai của Ma-ri như là
ánh sáng trong đêm. Tất cả những gì trước đây
không lợi ích liên lạc với nhau thì nay lại ràng
buộc nhau trong một trật tự bình thưòng. Tôi chỉ
còn việc tìm gặp cái người dị dạng đó. Nếu anh
ta còn ở Aldershot thì việc đó sẽ dễ dàng. Ban
ngày tôi dò hỏi và buổi tối hôm đó, tôi đã biết
địa chỉ. Đó là Henry Wood ở trọ trong cùng một
đường phố và bà Bát-cơ đã gặp ông ta. Ông ta chỉ
mới tới đó có năm ngày. Tôi đến gặp bà chủ nhà
trọ và tự xưng là nhân viên mới đến thu những
phiếu thuộc cảnh sát và bà ta đã bép xép:“ Cái
ông Henry Wood là nhà ảo thuật và nghệ sĩ diễn
rong. Ông ta đi diễn quanh các trại lính và các
quán cà phê buổi chiều“. Trong cái hộp, có một
con vật đã làm cho bà chủ nhà trọ phải nhiều phen
sợ bở vía: đó là con thú mà ông đem ra trình diễn.
Bà ấy còn cho biết đôi lúc ông nói một thứ tiếng
lạ hoắc và hai đêm vừa qua ông ta cứ rên rỉ và
khóc lóc ở trong phòng. Về tiền bạc, ông sòng
phẳng, nhưng dẫu sao trong số tiền ứng trước thì
ông đã trả cho bà một đồng florin giả. Bà đưa
cho tôi xem; đó là một đồng rupi ấn Độ.
”Giờ đây, thật hoàn toàn sáng tỏ rằng: hai người
đàn bà chia tay nhau, người dị dạng đã đi theo
họ trong khoảng cách xa, ông ta chứng kiến cảnh
cãi cọ giữa hai vợ chồng, ông ta vội vã chạy vào
trong phòng khách nhỏ và con thú mà ông ta mang
theo đã trốn ra khỏi hộp. Nhưng ông ta là người
duy nhất có thể cho chúng ta biết những gì đã
xảy ra.
- Và anh có ý định hỏi ông ta?
- Tất nhiên! Nhưng hỏi trước mặt một người chứng.
- người chứng sẽ là tôi.
- Phải, điều đó làm sáng tỏ vấn đề. Nhưng nếu
ông ta từ chối, chúng ta buộc lòng đưa nọi vụ
cho cảnh sát.
- Liệu ông ta còn ở đó không?
- Một trong những chú nhóc của tôi đã lảng vảng
trước nhà trọ và nếu ông ta bỏ đi thì chú bé sẽ
bám sát ông ta như một con đỉa. Ngày mai chúng
ta sẽ gặp lại chú bé. Nhưng trong lúc chờ đợi,
chính tôi là kẻ gây ra tội ác nếu tôi còn bắt
anh thức lâu hơn nữa.
Chúng tôi tới nơi xảy ra tấm thảm trạng vào hồi
giữa trưa rồi tới đường Hudsson ngay lập tức.
- Đây là đường Hudson. A! Kìa, chú nhỏ tới báo
cáo.
- Ông ta vẫn còn ở đó, thưa ông! - Một cậu bé
vừa chạy tới vừa kêu lên với chúng tôi.
- ”Tốt“! Holmes nói khi vuốt ve má chú bé“. Lại
đây, Watson. Chúng ta tới nơi rồi“.
Holmes đưa vào tấm thiếp trên đó chỉ vài lời
ngỏ ý muốn được gặp ông Hennry Wood về một việc
quan trọng. Ngay sau đó chúng tôi được mời vào
nhà. Mặc dù đang mùa nóng nực, ông ta vẫn thu
mình bên ngọn lửa và căn phòng đúng là một cái
lò. Henry Wood hoàn toàn dị hình và co rúm trên
một cái ghế đáp ứnựa. Nhưng khuôn mặt ông hướng
về chúng tôi, thuở trước hẳn là rất điển trai.
Ông nhìn chúng tôi với vẻ nghi hoặc. Không nói
mà cũng chẳng đứng lên, ông chỉ cho chúng tôi
hai cái ghế dựa.
- ”Ông từ bên ấn Độ về, tôi nghĩ thế?“ Holmes
hỏi với một giọng nhã nhặn. ”Tôi tới về cái vụ
nho nhỏ mà ông đã biết: cái chết của đại tá Bát
- cơ“.
- Vụ đó thì can hệ gì tới tôi?
- Tôi cũng mong muốn sự việc như thế. Bởi vì
nếu nội vụ không được làm sáng tỏ thì bà Bát -
cơ - vốn là một người bạn cũ của ông - sẽ bị gán
cho tội giết người.
Người đó giật nẩy mình, kêu lên:
- Tôi không biết ông là ai, cũng chẳng hiểu vì
sao ông lại biết được điều đó.
- Người ta chỉ còn chờ đợi bà tỉnh lại để bắt
giam bà.
- Lạy Chúa! Ông là cảnh sát hả?
- Không.
- Thế thì sao ông lại can thiệp vô?
- Tôi can thiệp là để cho công lý được thể hiện.
- Ông có thể tin nơi tôi, bà ấy vô tọi.
- Thế thì chính ông là phạm tội.
- Không. Tôi không gây ra tội ác.
- Vậy, ai giết đại tá Giêm Bát - cơ?
- ”Chúa giết ông ta. Nhưng ông hãy nhớ lấy điều
này: nếu như tôi có đập vỡ óc y ra thì cũng rất
đáng với cái tội của y. Ông muốn tôi khai à? Được,
tôi chẳng có gì phải hổ thẹn cả. Đây, hiện giờ
trên lưng tôi có một cái bướu lạc đà và những
xương sườn xiêu vẹo. Nhưng đã có một thời, hạ
sĩ Henr Wood này là người đẹp trai nhất trong
trung đoàn bộ binh 117. Thuở đó, chúng tôi ở bên
ấn Độ, tại vùng Bhurtee. Bát cơ là trung sĩ trong
cùng một đại đội với tôi. Còn người đẹp của trung
đoàn... đúng thế! Là Nancy Devoy; thân phụ cô
là trung sĩ trưởng đội. Hai chàng trai cùng yêu
cô và chỉ có một được cô yêu thương: Tôi. Tôi
đã chiếm được trái tim cô, nhưng cha cô lại ưa
Bát - cơ hơn. Tôi là một người mạo hiểm, một tay
phiêu lưu, còn Bát - cơ là người có học và người
ta đã dự đoán trước là anh sẽ thành sĩ quan. Nhưng
Nancy lại tha thiết yêu tôi và tôi tin là tôi
sẽ lấy được nàng. Than ôi, cuộc nổi loạn của tính
bản địa Cipayes bùng nổ và khắp xứ ngập chìm trong
máu lửa!
” Toàn thể trung đoàn, thêm phân nửa đội pháp
binh, một đại đội lính người Sikhs và nhiều người
thường dân cùng đàn bà, trẻ con bị bao vây trong
miền Bhurtee. Tới tuần thứ hai thì nước bắt đầu
khan hiếm. Cần phải liên lạc với đoàn quân của
tướng Neill đang ngược lên xứ đó. Đó là cơ may
duy nhất. Tôi tự ý tình nguyện lẻn ra khỏi vòng
vây và báo cho tướng Neill biết về tình trạng
nguy ngập của chúng tôi. Đề nghị của tôi được
chấp thuận. Tôi bàn bạc với trung sĩ Bát cơ, là
người biết rõ thực địa hơn bất cứ ai. Ông ta đã
vẽ cho tôi một bản đồ để ra khỏi vòng vây. Tới
10 giờ tối tôi lên đường. Có cả ngàn sinh mạng
cần được cứu sống, nhưng thạt tâm tôi chỉ nghĩ
đến có một người: Nàng.
”Con đường men theo một dòng nước cạn: tôi hy
vọng là đi như thế sẽ thoát được sự canh chừn
của bên địch. Nhưng trong lúc đang bò, tôi rơi
vào tay sáu tên lính gác đang chờ đợi toi. Trong
hai giây, tôi bị choáng váng vì một cú đánh rồi
bị trói. Cú đánh đó làm cho tôi đau đớn trong
lòng người hơn là ở trên đầu, bởi vì tôi nghe
quan Cipayes nói với nhau rằng chính Bát cơ đã
cho một đầy tớ địa phương đến báo tin cho họ,
nhờ vậy họ mới bắt được tôi.
Ngày hôm sau, vùng Bhurtee được quân của tướng
Neill giải cứu, nhưng quân nổi loạn đem tôi chúng
trong cuộc rút lui. Tôi bị tra tấn. Tôi đào thoát.
Tôi bị bắt lại và bị hành hạ thành người tàn phế.
Một phần quân phiến loạn bỏ trốn qua Népal; tôi
phải theo đoàn đó. Chúng tôi còn đi xa hơn, đi
tới tận Darjeeling. ở đó dân sơn cước giết quân
phiến loạn và tôi trở thành nô lệ của họ. Tôi
lại bỏ trốn nữa. Nhưng thay vì đi về hướng nam,
tôi lại ngược lên hướng bắc, đến xứ người Afghans.
Tôi lang thang ở đó trong người năm, rồi trở xuống
Punjab là nơi tôi đã sống với dân địa phương,
kiếm ăn bằng cách làm trò ảo thuật. Tôi làm sao
dám trở về nước Anh. Thà cứ để cho Nancy và các
bạn cũ cứ giữ mãi cái hồi ức về một gã Henry Wood
đã chết với một cái lưng thẳng, hơn là thấy tôi
trong một cái hình thể của một kẻ dị dạng gớm
ghiếc như vậy. Họ tin chắc là tôi đã chết. Như
thế lại càng hay! Tôi nghe nói Bát - cơ đã cưới
Nancy và đã được thăng cấp trong trung đoàn.
”Nhưng khi về già, người ta tha thiết nhớ cố
hương. Trong những năm dài, rồi những năm dài,
tôi đã đeo đuổi theo hình ảnh bao đồng cỏ xanh
và các hàng rào bên nước Anh. Sau cùng tôi muốn
nhìn lại chúng một lần chót trước khi lìa đời“.
- ”Câu chuyên của ông thật là cảm động“, Sherlock
Holmes nói“. Tôi dã biết có cuộc gặp mặt giữa
ông và bà Bát - cơ. Ông đã đi theo bà ấy về nhà,
nhìn qua cánh cửa sổ, ông thấy họ cãi nhau, chắc
hẳn là người vợ trách móc ông chồng về câu chuyện
ngày xưa. Những tình cảm cá nhân của ông lúc đó
đã thắng, ông lièn chạy băng qua bãi cỏ và vào
trong phòng.
- Đúng. Thưa. Và khi thấy tôi, y té gục đầu xuống
thanh gác củi. Nhưng y đã chết trước khi gục xuống:
tôi trông thấy cái chết trên mặt y, cũng rõ ràng
như tôi đọc sách này. Việc nhìn thấy tôi tựa như
viên đạn súng lục bắn thẳng vào trái tim tội lỗi
của y.
- Rồi sau đó?
- Nancy ngất đi. Tôi rút trong bàn tay nàng cái
chìa khoá, định mở cửa đi tìm người cấp cứu. Nhưng
tôi nảy ra cái ý định nên để nàng lại đó, còn
mình thì bỏ trốn. Tôi nhét cái chìa khoá vào túi
và đánh rơi cây gậy trong lúc đuổi theo Teddy
đang lên lên tấm ri-đô. Khi tôi nhốt được nó vào
trong cái hộp, tôi chạy đi với tốc độ nhanh nhất.
- Teddy là ai? - Holmes hỏi.
Henry cúi xuống và lôi ra một con vật bé nhỏ
xinh đẹp màu đỏ lạt, mảnh mai và mềm mại, một
cái mũi dài màu hồng và cặp mắt đỏ tuyệt đẹp.
- Một con chồn đen.
- Vâng, người ta gọi như thế, hoặc còn gọi nó
là cầy ăn rắn. Tôi gọi nó là con bắt rắn. Tôi
có nuôi một con rắn hổ đã bẻ hết răng nanh, và
mỗi tối Teddy lại bắt rắn để mua vui cho những
người trong xứ. Còn có chuyện gì ông muốn biết
nữa không, thưa ông?
- Rất có thể là chúng tôi sẽ cần đến ông, nếu
bà Bát - cơ bị gặp khó khăn.
- Trong trường hợp đó, xin ông hãy tuyệt đối
tin cậy nơi tôi!
- Giờ đây, ông đã vừa ý khi biết rằng trong ba
mươi năm qua, lương tâm ông đại tá đã không ngừng
cắn rứt về cái hành vi phản bội của mình. A, ông
thiếu tá Mã phi đang đi bên kia đường. Xin chào,
ông Wood.
chúng tôi đuổi kịp ông thiếu tá.
- A, Holmes“, thiếu tá reo lên, ”ông đã biết
tin gì chưa“.
- Chuyện gì vậy?
- Cuộc điều tra đã kết thúc. Y sĩ chứng nhận
rằng nạn nhân chết vì chứng ngập máu. Tóm lại
đây chỉ là một vụ thật tầm thường.
” ồ, rất tầm thường!“ Holmes cười và trả lời.
”Mình đi thôi, anh Watson! người a chẳng còn cần
đến chúng ta nữa“.
Trong lúc đi ra nhà ga, tôi nói với Holmes:
- Có một điều tôi vẫn chưa rõ: người chồng tên
là Giêm và người kia là Henry, tại sao bà ấy lại
nói đến tên David?
- Đó là một từ ngữ dùng để oán trách.
- Để oán trách?
- Trong kinh Thánh, nhân vật David thỉnh thoảng
lại sa đoạ, hắn đã hành động y hệt như trung sĩ
Giêm Bát cơ vậy.