Khi chúng tôi bước ra khỏi phòng,
ông Maso còn hỏi lại:
- Các ông đã xem kỹ căn phòng này chưa?
- Hiện nay thì đủ rồi. - ông thanh tra đáp.
Holmes cũng gật đầu đồng ý.
- Bây giờ thì chắc các ông muốn nghe lời khai của
một vài người ở trong lâu đài này. Anh Am, chúng tôi
sẽ làm việc ở trong phòng ăn. Trước hết, anh hãy cho
chúng tôi nghe tất cả những gì mà anh biết.
Câu chuyện của anh đầu bếp kể lại đã thuyết phục
được người nghe. Anh ta đã được nhận vào làm 5 năm
trước đây, khi ông Du-gia vừa đến ở Birlstone. Ông
Du-gia là một người có của và đàng hoàng, đã từng
làm giầu trước đây ở bên Mỹ, ông tỏ ra là một ông
chủ tốt và hào phóng, ông Du-gia ra lệnh mỗi buổi
chiều phải kéo cây cầu lên là để nối tiếp lại một
phong tục cũ của toà lâu đài cổ này. Ông rất ít khi
đi Luân Đôn, và cũng ít khi rời khỏi làng. Nhưng một
ngày, trước hôm xảy ra án mạng, ông đi lên Tunbridge
Wells để mua sắm một ít đồ vật. Ngày hôm sau, chính
Am nhận xét thấy ông Du-gia có vẻ hơi nóng nảy, cáu
gắt và điều này thật là khác thường. Lúc xảy ra án
mạng, Am đang ở trong bếp, đang cất dọn các đồ chén
bát. Chính lúc đó anh nghe tiếng kéo chuông thật
mạnh, nhưng không nghe thấy tiếng súng nổ vì từ bếp
lên đến căn phòng ấy còn phải qua một dãy hành lang
dài và mấy lớp cửa đóng. Tiếng chuông quá mạnh cũng
làm cho bà hầu phòng phải chạy ra, và hai người cùng
chạy lên nhà trên. Khi đến chân cầu thang, thì bà
Du-gia ở trên lầu đang đi xuống. Không, bà ta không
có dáng vội vàng. Và Am có cảm giác là bà ta không
bối rối. Khi bà Du-gia xuống đến bậc cầu thang cuối
cùng, thì ông Bar từ trong phòng chạy ra, ngăn bà
lại và xin bà trở lên. Ông ấy kêu lên:
- Chị hãy trở lên phòng ngay đi. ảnh đã chết rồi.
Chị lên đi.
Ông Bar phải nói mãi bà Du-gia mới chịu lên phòng.
Bà không khóc. Bà không làm ồn ào. Bà hầu phòng A-len
đã dìu bà lên và ở trong phòng với bà. Am và ông Bar
lúc đó mới đi vào trong căn phòng. Bấy giờ ngọn nến
khôngcháy, mà cây đèn lại cháy. Cả hai người nhìn
qua cửa sổ, nhưng đêm tối đen như mực, và không nghe
thấy gì cả. Họ đổ xô ra buồng ngoài và Am đã hạ cây
cầu rút xuống để ông Bar đi báo cảnh sát.
Lời khai của bà hầu phòng A-len cũng khớp với lời
khai của Am. Buồng riêng của bà hầu phòng ở gần phía
nhà trên hơn là chỗ bếp của Am. Bà đang đi ngủ, thì
nghe tiếng chuông kéo thật mạnh. Bà có hơi nặng tai.
Không biết có phải vì thế mà bà không nghe thấy
tiếng súng chăng? Khi ông Am chạy lên nhà trên, thì
bà cũng chạy theo ông ta. Bà có trong thấy ông Bar
mặt bối rối từ trong phòng đi ra.Ông ta chạy đến
trước mặt bà Du-gia lúc đó ở trên cầu thang đi xuống.
Ông ta năn nỉ mời bà Du-gia đi lên, và bà ta có trả
lời lại điều gì đó mà bà A-len nghe không rõ. Ông
Bar ra lệnh cho bà:
- Bà đưa bà chủ lên lầu đi. Và ở luôn đó với bà chủ.
Bà đưa bà chủ lên lầu về phòng và cố khuyên bà chủ
bình tĩnh lại. Bà Du-gia, chân tay run bắn, nhưng
cũng không muốn đi xuống nữa. Bà mặc chiếc áo khoác,
ngồi vào bên lò sưởi, hai tay ôm lấy đầu. Bà A-len
đã ở lại đó cả đêm với bà.
Còn các gia nhân khác, thì họ đều đi ngủ cả, và chỉ
được báo động trước lúc cảnh sát đến một chút thôi.
Đến lượt ông Bar. Về những sự kiện xảy ra đêm hôm
qua, ông cũng khai y như đã khai với thượng sĩ Will.
Riêng ông, ông tin rằng tên sát nhân đã trốn qua cửa
sổ. Theo ông thì vết máu ở trên thành cửa sổ không
cho phép người ta nhgi ngờ điều đó. Nhưng ông ta
không hiểu vì sao hung thủ lại có thể biến đi được,
hoặc tại sao nó lại không chịu trốn bằng xe đạp, nếu
chiếc xe ấy là của nó.
Về vụ án mạng này, ông có thể có một quan điểm rất
rõ ràng. Ông Du-gia là người ái Nhĩ Lan di cư sang
Mỹ từ thời còn thanh niên, đã làm ăn phát đạt và Bar
đã quen biết ông ta ở Cali. Hai người chung vốn khai
thác một cái mỏ, kết quả hết sức tốt đẹp. Đột nhiên
Du-gia bán lại phần của ông ta và trở về Anh. Lúc đó
Bar vừa goá vợ. ít lâu sau, Bar chuyển hết tài sản
ra thành tiền mặt rồi về Luân Đôn, vì thế hai người
lại nối lại tình bạn cũ. Du-gia làm cho Bar có cảm
giác rằng có một mối nguy hiểm nào đó đang treo trên
đầu mình, và Bar vẫn nghĩ rằng việc Du-gia đột ngột
rời bỏ Cali là có liên quan đến mối nguy hiểm đó.
Bar tưởng tượng một hội kín nào đó, có mối thù không
đội trời chung với Du-gia. Chính một vài câu nói của
Du-gia đã làm nẩy nở ý nghĩ này trong đầu Bar, chứ
bản thân Bar thì chưa bao giờ hỏi gì về cái hội kín
này. Bar đoán rằng những chữ viết trên mẩu bìa cứng
là có liên quan đến hội kín.
Ông thanh tra Dona hỏi:
- Ông đã sống với ông Du-gia trong bao lâu ở Cali?
- Khoảng 5 năm.
- Lúc đó Du-gia sống độc thân?
- Goá vợ.
- Bà vợ thứ nhất của Du-gia là người nước nào?
- Thuỵ Điển. Tôi có thấy ảnh của bà ta. Đó là một
phụ nữ rất đẹp, chết trước khi chúng tôi quen nhau
một năm.
- Liệu ông có thể xác định được quá khứ của bà ta ở
một vùng nào cụ thẻ bên Mỹ không?
- Du-gia có nói với tôi là ở Chicago. Ông ta biết
rất rõ thành phố này và đã làm việc ở đó, Ông ta
cũng có nói với tôi về những vùng mỏ khai thác than
và sắt.
- Ông Du-gia có làm chính trị không? Cái hội kín này
có mục đích chính trị không?
- Không. Ông ấy không bao giờ để ý đến chính trị.
- Ông có nghĩ rằng đây là một cái hội phạm pháp
không?
- Tuyệt đối không. Tôi chưa thấy một người nào lại
thẳng thắn và dứt khoát như ông Du-gia.
- Ông có thể cho chúng tôi biết những chi tiết gì
đặc biệt về cuộc đời của Du-gia ở Cali được không?
- Lúc đó ông ta sống ru rú trong khu mỏ và chỉ đi
đến những nơi đông người khi nào đặc biệt lắm mà
thôi. Khi ông ta đột ngột bỏ về Châu Âu, thì một
tuần lễ sau có sáu người đến tìm ông ta.
- Loại người như thế nào?
- Những người trông có vẻ bất trị lắm. Họ kéo nhau
đên khu mỏ và muốn biết Du-gia đang ở đâu. Tôi nói
là ông ta đã trở về Châu Âu và tôi không biết địa
chỉ.
- Họ là người Mỹ? Người Cali?
- Cali thì tôi không biết. Nhưng người Mỹ thì chắc
chắn rồi, không phải là dân thợ mỏ.
- Cách đây có đến sáu năm không?
- Gần bẩy năm .
- Thế mà hai ông đã sống với nhau 5 năm ở Cali. Vậy
thì cái vụ hội kín này phải cách đây ít nhất đến 11
năm.
- Đúng thế.
- Một mối thù dai dẳng.
- Tôi nghĩ rằng mối thù này lúc nào cũng lởn vởn
trong đầu ông ta.
- Khi một người cảm thấy mình bị đe doạ, thì người
đó phải nhờ cảnh sát bảo vệ chứ?
- Có thể đây là một mối nguy hiểm mà các cơ quan
cảnh sát không làm gì được cũng nên, Nhưng có một
điều này các ông cần phải biết: ông Du-gia không khi
nào đi ra ngoài lại không mang vũ khí. Nhưng hôm qua
ông ấy lại mặc chiếc áo khoác ở nhà, và để súng ở
trong buồng. Có lẽ vì thấy chiếc cầu rút đã kéo lên,
nên ông ta cho thế là an toàn chăng?
Ông Dona hỏi thêm:
- Ông Du-gia đã rời Cali đã sáu năm rồi. Đến năm sau
thì ông cũng bỏ đi nốt phải không?
- Vâng, đúng thế.
- Ông ta lấy vợ khác từ năm năm nay. Vậy thì ông trở
về Anh vào lúc ông ta cưới vợ chứ?
- Một tháng trước ngày cưới. Tôi là người làm chứng
của ông ta.
- Thế ông có quen biết bà Du-gia trước khi cưới
không?
- Không. Tôi đã rời khỏi nước Anh từ mười năm rồi.
- Nhưng từ đó đến nay ông đã gặp bà ta nhiều lần rồi
chứ?
Bar nhìn ông thanh tra một cách hết sức nghiêm
trang:
- Tôi đã gặp ông ta nhiều lần, từ ngày cưới đến giờ.
Còn nếu tôi có gặp bà ta đi nữa thì bới vì không thể
ở trong nhà một người mà lại không biết đến vợ người
đó. Nếu ông tưởng tượng rằng có một mối liên quan
nào đó....
- Tôi chẳng tưởng tượng gì cả. Tôi có nhiệm vụ phải
tìm tất cả những gì có thể liên quan đến vụ án.
Nhưng tôi không muốn làm mất lòng ai.
Bar đáp lại một cách khô khốc:
- Có những cái tìm kiếm làm mất lòng người khác đấy,
ông thanh tra à.
- Chúng tôi chỉ muốn có các sự kiện. Nếu những sự
việc này được trình bày ra đây một cách sáng tỏ, thì
điều này chỉ có lợi cho ông, cho mọi người. Ông
Du-gia có hoàn toàn tán thành tình bạn của ông đối
với với vợ ông ta không?
Bar tái mặt, hai bàn tay nắm chặt vào nhau, nói to
tiếng:
- Ông không có quyền hỏi tôi những câu như vậy. Việc
này có liên quan gì đến vụ án mà ông đang điều tra?
- Tôi có phải nhắc lại câu hỏi này không, thưa ông?
- Ông cứ nhắc lại, còn tôi, tôi không trả lời .
- Ông có thể không trả lời, nhưng ông phải biết
chính cái việc từ chối đã là một câu trả lời rồi.
Bởi vì ông sẽ chịu trả lời nếu ông không có điều gì
dấu diếm.
Bar ngồi im lặng một lát, nét mặt căng thẳng. Rồi
ông ta trở lại thư thái hơn, nhìn chúng tôi mỉm
cười:
- Thôi được, tôi thấy thật ra các ông cũng chỉ làm
nhiệm vụ của mình thôi. Tôi muốn nói với các ông
rằng Du-gia có một tính xấu là hay ghen. Ông ta rất
quí mến tôi, Và ông ta cũng quí vợ ông ta lắm. Mỗi
lần tôi đến đây, ông ta đều rất vui lòng. Lâu tôi
không đến chơi là ông liền cho người đi gọi. Tuy
vậy, khi ông thấy vợ ông và tôi ngồi nói chuyện với
nhau thì ông ta nổi nóng đến mức nói tôi chẳng ra gì
nữa. Đã nhiều lần tôi thề rằng sẽ không đặt chân đến
đây nữa. Nhưng khi tôi hờn dỗi thì ông ấy lại viết
cho tôi những bức thư rất dễ thương làm tôi không
thể giận lâu hơn được nữa. Và sau đây là lời nói
cương quyết của tôi: Không có một người phụ nữ nào
lại yêu chồng và chung thuỷ như bà Du-gia.
Ông thanh tra Dona hỏi:
- Ông có biết chiếc nhẫn cưới của nạn nhân đã bị rút
ra khỏi ngón tay của người ấy không?
- Hình như thế.
- Tại sao ông lại nói là "hình như thế". Ông biết rõ
đây là một việc có thật kia mà.
Bar có vẻ lúng túng:
- Khi tôi nói "hình như thế" là tôi muốn nói rằng
cũng có thể chính nạn nhân đã tự mình rút chiếc nhẫn
đó ra.
- Việc chiếc nhẫn cưới biến mất, đã gợi ý cho mọi
người thấy rằng có một mối liên quan nào đó giữa đám
cưới của ông Du-gia và vụ án này. Có phải không ông?
Bar nhún vai trả lời:
- Tôi sẽ không đi tìm xem nó gợi ý cái gì, nhưng nếu
ông muốn ám chỉ rằng việc đó làm tổn thương đến danh
dự bà Du-gia thì.....
Hai mắt ông ta long lanh sáng quắc, và ông ta phải
dùng tất cả nghị lực để kìm hãm xúc cảm.
- .... Thì ông đã đi lầm đường rồi đấy, Có thế thôi.
Ông thanh tra Dona lạnh nhạt nói:
- Tạm thời bây gì tôi không có gì hỏi thêm ông
nữa...
Holmes vội bác ngay:
- Xin ông một chi tiết nhỏ, thưa ông Bar. Khi ông
bước vào trong phòng, thì chỉ có một ngọn nến thắp
để trên bàn, có phải hông?
- Vâng.
- Chính nhờ ánh sáng của ngọn nến đó mà ông đã trông
thấy là có một việc khủng khiếp vừa xảy ra,phải
không?
- Đúng thế.
- Ông đã tức khắc kéo chuông ngay để báo động.
- Vâng.
- Và mọi người đã đổ ngay đến đấy chỉ sau một khoảng
thời gian rất ngắn, Có phải không?
- Chỉ sau không đầy một phút.
- ấy thế mà khi mọi người vào đây lại thấy ngọn nến
được tắt đi và ngọn đèn đã được thắp lên, như vậy có
lạ lùng không ông?
Một lần nữa, Bar lại tỏ ra hơi lúng túng. Ông ta im
lặng một lát rồi mới trả lời:
- Thưa ông tôi không thấy có gì lạ lùng. Ngọn nến
chiếu ánh sáng lu mờ quá. ý nghĩ đầu tiên của tôi là
phải có một ánh sáng tốt hơn. Cái đèn lúc đó để trên
bàn, tôi đã thắp nó lên.
- Và ông đã tắt ngọn nến đi.
- Vâng.
Holmes không hỏi thêm, và Bar - sau một cái nhìn
thách thức về phía mỗi người chúng tôi, đã rời căn
phòng đi ra.
Dona viết một mảnh giấy nhỏ báo cho bà Du-gia biết
là ông sẽ lên gặp bà, nhưng bà đã trả lời là bà sẽ
xuống.
Đó là một phụ nữ khoảng 30 tuổi, cao lớn, rất đẹp,
dáng điệu chín chắn, và hết sức tự chủ, khác hẳn với
hình ảnh một người bi thảm và rã rời mà tôi hình
dung ra trong đầu. Bà lần lượt nhìn chúng tôi, với
một biểu hiện dò hỏi. Rồi đôi mắt dò hỏi đó, nhường
chỗ cho một câu hỏi đột ngột:
- Các ông đã tìm ra gì chưa?
Trong giọng nói của bà chứa đựng sự sợ sệt nhiều hơn
là niềm hy vọng.
- Thưa bà, chúng tôi đã làm những việc cần làm. Xin
bà cứ yên tâm. - Dona trả lời
- Xin các ông đừng ngại tốn kém tiền bạc. - bà
Du-gia nói, giọng thều thào.
- Không biết bà có đem lại cho chúng tôi một chút ít
ánh sáng nào không?
- Thưa, tôi sẵn sàng làm tất cả những gì mà các ông
cần.
- Ông Bar cho biết rằng bà không bước chân vào căn
phòng xảy ra án mạng.
- Vâng. Ông ta đã bắt tôi phải đi lên và trở về
phòng riêng.
- Bà nghe tiếng súng nổ, và bà đã tức khắc xuống
ngay?
- Tôi mặc áo khoác ngoài và tôi chạy xuống.
- Từ lúc bà nghe tiếng nổ đến lúc ông Bar ngăn bà
lại, mất khoảng bao nhiêu.
- Có lẽ độ hai phút. Trong những lúc như vậy thật
khó tính được thời gian.
- Bà có thể dự tính được khoảng thời gian từ lúc
chồng bà đi xuống nhà đến lúc bà nghe tiếng súng nổ
không?
- Thưa ông, chồng tôi đi từ buồng tắm ra nên tôi
không nghe thấy tiếng anh ấy đi xuống.
- Bà đã quen ông ấy ở Anh có phải không?
- Thưa vâng, đã 5 năm rồi.
- Bà có bao giờ nghe thấy ông ấy nói về một chuyện
gfi xảy ra ở bên Mỹ và dự cảm về một mối nguy hiểm
nào không?
Bà Du-gia suy nghĩ lung lắm trước khi trả lời. Mãi
một lúc sau bà mới nói:
- Thưa có. Tôi vẫn có linh tính là có một sự nguy
hiểm đe doạ chồng tôi. Anh không chịu bàn luận gì
với tôi về việc này cả, vì anh ấy chủ tâm tránh cho
tôi mọi sự sợ hãi.
- Vậy làm sao bà lại biết được?
Nét mặt bà Du- gia hồng tươi hẳn lên trong một nụ
cười:
- Tôi biết được bí mật này là nhờ vào nhiều dấu
hiệu: vì anh ấy không chịu nói gì với tôi về một vài
quãng đời của anh khi còn ở bên Mỹ. Vì tôi thấy anh
ấy có những biện pháp tự vệ riêng. Vì đôi lúc anh ấy
không kiềm chế được và nói lỡ vài lời. Vì thấy cái
cách anh ấy nhìn những người lạ mặt bất chợt đến
đây. Tôi hoàn toàn chắc chắn là anh ấy có những kẻ
thù ghê gớm, mà anh ấy cho là đang dò tìm tung tích
của anh, và anh luôn luôn cảnh giác đề phòng.
- Ông ấy đã lỡ mồm nói ra điều gì làm bà phải chú ý.
- Holmes hỏi.
- "Thung lũng khủng khiếp". Có một lần anh ấy dùng
hình tượng này để nói với tôi. Khi tôi thấy anh ấy
nghiêm nghị hơn bình thường, tôi có hỏi: "Có bao giờ
chúng ta ra khỏi được cái "Thung lũng khủng khiếp"
ấy không? " Và anh ấy đã trả lời rằng: "Có lẽ chúng
ta không bao giờ ra khỏi được".
- Tất nhiên là bà có hỏi ông nhà xem ông muốn nói gì
bằng hình tượng "Thung lũng khủng khiếp".
- Vâng, tôi có hỏi.Nhưng anh ấy sa sầm mặt lại và
lắc đầu nói: "Cầu trời cho cái bóng ấy không bao giờ
phủ cả lên em nữa". Đó là cái thung lũng thực sự chứ
không phải là một hình tượng. Anh ấy đã sống ở đó và
một sự khủng khiếp đã xảy ra có liên quan đến anh.
- Thế ông ấy có nêu lên một người nào không?
- Cách đây ba năm, anh ấy bị sốt cao. Trong cơn mê,
anh ấy luôn luôn nhắc đến một tên người. Cái tên ấy
là Ganh-ty trưởng toán. Lúc anh ấy bình phục, tôi có
hỏi trưởng toán Ganh-ty là ai. Anh ấy cười trả lời:
"Nhờ trời, nó chưa bao giờ làm trưởng cái toán của
anh". Nhưng chắc có một mối liên hệ nào đó giữa
người trưởng toán đó và thung lũng khủng khiếp.
Ông thanh tra Dona nói:
- Bà đã gặp ông Du-gia trong nhà trọ một gia đình ở
Luân Đôn và hai ông bà đã hứa hôn với nhau cũng ở
đó. Trong việc lập gia đình, có một yếu tố nào bí
mật hay cần phải giữ kín không? Hay là một yếu tố
lãng mạn?
- Lãng mạn à? Vâng, thưa có. Bao giờ thfi cũng có
yếu tố lãng mạn. Không có cái gì là bí mật cả.
- Ông ấy có tình địch không?
- Thưa không. Lúc đó tôi hoàn toàn tự do.
- Việc mất chiếc nhẫn cưới, có gợi cho bà một ý nghĩ
gì không? Nếu kẻ thù cũ đã đến đây và ám hại ông,
thì có lý nào chúng lại tháo chiếc nhẫn.
TRong một thoáng, tôi chợt thấy một cái gì đó như là
một nụ cười rất kín đáo trên đôi môi bà Du-gia. Bà
ta bình tĩnh trả lời:
- Tôi tuyệt đối không hiểu gì cả. Thật là kỳ lạ.
Ông Thanh tra nói:
- Thưa bà, chúng tôi không giữ bà lâu hơn nữa và rất
tiếc đã quấy rầy bà. Tất nhiên còn một số điều nữa
phải xem xét thêm, nhưng chúng tôi sẽ xin kêu gọi sự
giúp đỡ của bà khi nào cần thiết.
Bà ta đứng lên, và tôi lại bất chợt một lần nữa thấy
đôi mắt sắc sảo nhìn chúng tôi một cách dò hỏi. Rồi
bước ra khỏi phòng ăn.
Khi hai cánh cửa phòng đã khép lại, ông thanh tra
Dona khe khẽ nói một cách trầm ngâm: "Một người đàn
bà đẹp. Một người đàn bà rất đẹp. Cái tay Bar này là
một người được phụ nữ ưa thích. Cậu ta công nhận
rằng Du-gia có tính hay ghen. Biết đâu rằng cái ghen
này không phải là vô căn cứ. Rồi lại còn chuyện cái
nhẫn cưới nữa. Chúng ta không thể coi thường chi
tiết ấy được. Một người mà đã rút cái nhẫn cưới ra
khỏi bàn tay của một xác chết. Ông nghĩ thế nào, ông
Holmes".
Holmes ngồi yên lặng, hai tay ôm đầu. Anh đứng dậy
ra giật chuông, và khi người đầu bếp vào, anh hỏi:
- Anh Am, ông Bar hiện giờ ở đâu?
- Thưa ông, để tôi đi xem.
Một lát sau, anh ta trở lại báo cáo ông Bar hiện
đang ở ngoài vườn.
- Anh Am, anh cố nhớ lại xem, đêm hôm qua khi anh
vào gặp ông Bar thì ông ta đi gì ở chân?
- Ông ta đi giày vải. Tôi đã mang giày da đến cho
ông ta thay để đi báo cảnh sát.
- Thế đôi giày vải ấy bây giờ ở đâu rồi?
- Dưới gầm ghế ở phòng ngoài.
- Rất tốt, việc phân biệt giữa những vết chân của
ông Bar và của một người ở ngoài là rất quan trọng
chứ? Anh có đồng ý không.
- Thưa ông, vâng, tôi nhận thấy các vết chân của ông
Bar đều đầy dấu máu. Nhưng cả những vết chân của tôi
cũng thế.
- Đó là điều bình thường, nếu căn cứ vào tình trạng
căn buồng lúc đó. Chúng tôi lại sẽ gọi chuông khi
nào cần đến anh.
Vài phút sau chúng tôi đã trở lại căn buồng có án
mạng. Holmes đã nhặt mang theo đôi giày vải để ở
buồng ngoài, đôi giày đỏ lòm máu.
Holmes cầm đôi giày ra đứng trước cửa sổ chăm chú
xem xét, vừa xem vừa nói khẽ một mình.
- Kỳ cục. Thực là kỳ cục.
Anh ta nhẹ nhàng cúi xuống và đặt chiếc giày cải lên
vết máu trên khung thành cửa sổ: KHớp đúng như in.
Anh ta mỉm cười, nhìn mọi người.
Ông thanh tra bối rối đến cực độ, hét lên như người
điên:
- Chính tay Bar này đã in dấu gìay trên thành cửa
sổ. Nó rộng hơn một dấu chân bình thường. Tôi nhớ
rằng ông đã có nói đây là một bàn chân phẳng. Bây
giờ mới hiểu tại sao. Nhưng này ông Holmes, thế hắn
định chơi cái trò gì đây?
Holmes cũng nhắc lại một cách trầm ngâm:
- Vâng, vâng. Trò gì nào?
Maso tủm tỉm cười: xoa mãi hai bàn tay vào nhau với
một niềm vui thích hoàn toàn có tính cách nghề
nghiệp:
- Tôi đã báo trước cho các ngài biết mà. Gay go hóc
búa lắm chứ có phải chơi đâu.
(Hết Chương 5 ... Xin xem tiếp
Chương 6) |