Hồi 9

Long tuyền nhất xuất tà ma khiếp
Đế địa âu dương diệt hoạn quan

Sáng ra, phu thê Chính Lan thức dậy thật sớm lo việc điểm tâm và hoá

trang. Tố Bình mở túi bảo bối, lấy ra ba chiếc mặt nạ mỏng như cánh chuồn

và hộp phấn màu. Chỉ sau vài khắc, Chính Lan biến thành một lão nhân lục

tuần, tóc hoa râm. Tố Bình cắt tóc mình làm râu giả cho chàng. Còn nàng và

Thi Mạn dịch dung thành hai hán tử trung niên, da mặt sạm nắng.

Thi Mạn bảo Hồng Quan Kim Xà giải tán xà trận. Ba người lên ngựa đi về

hướng bìa rừng. Ra gần đến đường quan đạo, đã thấy người xe qua lại tấp lập.

Đó là đám khách thương hồ cùng các xe hàng, đang vội vã đi đến bến đò để

vượt sông Hoàng Hà. Chính Lan vui mừng nhận ra lá Đại Kỳ của Phi Ưng

Tiêu Cục. Họ cũng đang hộ tống một xe tiêu nhẹ đi lên hướng Bắc. Lão nhân

cao lớn cỡi Bạch Mã, đi cạnh tiêu xa, chính là Tổng tiêu đầu Phi Ưng Kiếm

Dương Mẫn, anh em cô cậu của nhạc phụ chàng Giang Tô Đại Hiệp Du

Huỳnh !

Trụ sở của Phi Ưng Tiêu Cục đặt ở Hoàng Châu, sanh ý không lấy gì làm

thịnh vượng. Hôm đám cưới Chính Lan, Dương lão có theo Giang Tô Đại

Hiệp đến dự.

Quí Thành Lâm thấy lão là biểu thúc của Trại Tây Thi Du Mỹ Kỳ, liền

ngỏ ý giao toàn bộ việc áp tải hàng hoá của Quí Gia Trang ở mấy tỉnh Giang

Nam cho Phi Ưng Kiếm. Lão ta vui mừng khôn xiết, càng biết ơn cháu rể

Hồng Nhất Điểm. Bọn Chính Lan phi ngựa ra, chạy đến gần Dương Mẫn.

Chàng hạgiọng gọi :

- Dương biểu thúc ! Tiểu tế là Chính Lan đây !

Phi Ưng Kiếm bán tín bán nghi, nhìn chàng với vẻ e ngại. Chính Lan

mỉm cười nhắc nhở :

- Hôm ấy ! Biểu thúc đã tặng cho tiểu tế và Mĩ Kỳ một cặp chim ưng bằng

bạch ngọc !

Việc này người ngoài chẳng thể biết được, Phi Ưng Kiếm mừng rỡ nói :

- Lão phu ghé Từ Châu, nghe đồn hiền điệt tế áp tải Thiên Niên Hà Thủ

Ô đi Bắc Kinh, dọc đường chạm trán Hồng Hồ Thập Bát Trại và Đào Hoa

Cung, lòng vô cùng lo lắng. Không ngờ hiền điệt tế vẫn còn ở đây !

Chính Lan giới thiệu hai ái thê và hỏi :

- Biểu thúc hộ tống tiêu xa đi đến đâu ?

Dương lão cười đáp :

- Nhờ sự tín nhiệm của Quí Gia Trang mà Phi Ưng Tiêu Cục nổi tiếng

khắp Giang Nam. Các tài chủ khác cũng đua nhau gửi hàng ! Thực ra, cũng là

nhờ oai danh Hồng Nhất Điểm đại hiệp của hiền tế đấy ! Khi họ biết lão phu là

chú vợ của hiền tế, càng bội phần tin tưởng !

Tố Bình cười khúc khích :

- Chắc chắn biểu thúc đã tiết lộ việc ấy ?

Phi Ưng Kiếm đắc ý :

- Đúng thế ! Có được cháu rể như Chính Lan, tội gì phải giấu. Nhưng ta

chỉ nói với các đại tài chủ thôi !

Lão hắng giọng rồi kể tiếp :

- Lần này lão phu được Hoàng tài chủ ở Thượng Hải uỷ thác đem trăm

cân Bảo Ngọc Tây Dương đến kinh đô. Số hàng này giao tại cửu hiệu của họ

Hoàng, để bán cho các phi tần, hay tiểu thư nhà quyền quí !

(Việc buôn bán với nước ngoài đã có từ thời nhà Hán, nhưng triều

Nguyên là vương triều đã xây dựng được nhiều hải cảng đối ngoại nhất. Trước

sau, triều Nguyên đã thiết lập thị Bách Ty tại bảy khu vực là Quảng Châu,

Tuyền Châu, Hoàng Châu, Chánh Nguyên, Ôn Châu, Cảm Phổ và Thượng

Hải. Đồng thời có quan hệ mậu dịch với gần trăm nước ngoại bang. Tuyền

Châu trở thành hải cảng lớn nhất Trung Hoa. Đến thời Minh, việc buôn bán

với Nam Dương rất phát đạt, nên cảng Quảng Châu lại phồn vinh hơn sáu

cảng kia).

Chính Lan nghe lão nói sẽ đi Bắc Kinh, mừng rỡ kể lại nội tình và nhờ

lão giúp đỡ. Tất nhiên, Phi Ưng Kiếm rất sẵn sàng. Thế là Phi Ưng Tiêu Cục có

thêm ba tiêu sư nữa !

Như đã nói ở trên, sông Hoàng Hà đổi dòng khi vừa qua khỏi thành Khai

Phong, ngoặc xuống phía Đông Tế Vinh, rồi theo hướng Đông Nam đổ vào hạ

lưu sông Hoài, chảy ra Hoàng Hải. Vì vậy, bến đò sang sông rất gần với Tế

Ninh. Phi Ưng Kiếm thấy Chính Lan không có vũ khí, liền sai người chạy vào

thành mua một thanh kiếm thật tốt. Dương tổng tiêu đầu muốn tỏ lòng biết

ơn cháu rể nên đã cao giọng bảo phó tổng tiêu đầu Phục Hổ Đao Hoa An :

- Hiền điệt hãy chọn thanh gươm tốt nhất, giá cả không hạn chế !

Thi Mạn bỗng đòi đi theo :

- Thiếp chưa đến Tế Vinh lần nào, xin được theo Hoa đại thúc xem qua

cảnh vật !

Chính Lan mỉm cười :

- Nàng đã thích thì cứ đi !Ba khắc sau, Hoa An và Thi Mạn trở lại. Mặt mĩ nhân thì tươi như hoa,

còn mặt họ Hoa thì lại nhăn nhó như khỉ ăn ớt.

Thi Mạn tươi cười trao Chính Lan một thanh trường kiếm cũ kỹ, cán ngà

voi vỏ bằng da lạc đà. Nàng ríu rít kể :

- Thật là may mắn, vừa đến cửa thành đã gặp ngay một gã người Tây Vực

đang rao bán kiếm. Gã bập bẹ kể rằng cần lộ phí về Tây Hạ nên mới phải cắn

răng bán bảo kiếm gia truyền ! Thiếp thấy tội nghiệp chẳng nỡ kỳ kèo thêm

bớt, chịu giá hai ngàn lượng bạc.

Hoa An không dằn nỗi lòng tiếc của, mở miệng cằn nhằn :

- Thiếu phu nhân đừng quá nhẹ dạ thì năm trăm lượng gã kia cũng bán !

Phi Ưng Kiếm nghe nói thanh kiếm nuốt mất hai ngàn lượng bạch ngân,

lòng đau như cắt nhưng cũng gượng cười :

- Giá cả chẳng quan trọng, quí hồ kiếm tốt là được !

Chính Lan lẳng lặng rút kiếm ra khỏi vỏ, thấy nước thép mờ đục, chẳng

hề toả ra chút hơi lạnh nào ! Chàng biết rõ Thi Mạn là người tinh minh, tất

chẳng bao giờ mua lầm, liền chăm chú quan sát thật kỹ. Cuối cùng chàng

nhận ra ba chữ mờ mờ nằm dọc thân kiếm, chữ mòn đi và không đủ nét.

Nhưng dựa vào những gì còn lại, chàng cũng đoán ra được đây là thanh Long

Tuyền Kiếm, một thần vật thời Xuân Thu, từng sánh vai với Can Tương, Mạc

Du, Ngư Trường, Thái A...

Chàng búng thử vào thân kiếm, lắng nghe tiếng ngân nga trong vắt và

dài dằng dặc. Chính Lan hoan hỉ phi thường nhưng cố nén xúc động và chỉ

nói :

- Hảo hiền thê ! Cám ơn nàng đã tặng bảo vật !

Phi Ưng Kiếm và Phục Hổ Đao đâu biết rõ ẩn tình, nhìn Chính Lan cười

mỉa, thầm rủa chàng là một gã nịnh đàn bà. Biết vợ mình mua kiếm lầm mà

vẫn ngợi khen.

Chính Lan truyền âm nói với Tiểu Linh Thố. Tố Bình hiểu ý, lấy ra hai

tấm ngân phiếu ngàn lượng, trả lại cho Hoa An :

- Số bạc kia là xương máu của anh em tiêu sư, chị em thiếp đâu nỡ lấy của

họ. Mong Hoa đại thúc nhận lại cho !

Chính Lan cũng nói :

- Nếu đại thúc không nhận, Chính Lan tôi xin hoàn lại bảo kiếm !

Dương lão mượn cơ hội ấy cười hì hì :

- Chính Lan đã nói thế, Hoa lão đệ cứ nhận lại bạc cho y được vui !

Phục Hổ Đao khoan khoái nhận lại ngay !Đò ngang cặp bến, tám tiêu sư đưa xe tiêu và ngựa lên đò. Họ đều là cao

thủ hạng nhất của Phi Ưng Tiêu Cục. Số bảo ngọc này trị giá đến năm vạn

lượng vàng nên ai nấy đều lo ngay ngáy. Nay có Hồng Nhất Điểm đồng hành

mối lo kia biến mất, họ thầm biết ơn chàng.

Sang đến bờ Bắc, Chính Lan nhận ra hàng trăm gã Cẩm Y Thị Vệ đang

tra xét khách sang sông. Chàng thì thầm nói với Phi Ưng Kiếm :

- Biểu thúc hãy lựa lời mà đối phó. Hy vọng chúng không biết mối quan

hệ giữa biểu thúc và tiểu điệt !

Dương lão giờ đây bắt đầu hối hận vì cái thói nhiều lời. Lão trấn an

Chính Lan mà cũng là để trấn an chính mình :

- Ta họ Dương còn nhạc phụ ngươi họ Du, làm sao chúng đoán ra được !

Chỉ cần chút lễ vật mãi lộ là xong ngay !

Người, ngựa, tiêu xa lên cả trên bờ, chờ đến phiên tra xét.

Chính Lan thấy bọn thị vệ thân thủ linh hoạt, mắt sắc như dao, biết ngay

chúng là cao thủ Đông Xưởng hoặc Tây Xưởng. Lúc hành sự công khai chúng

có quyền mặc áo Cẩm Y Thị Vệ !

Hàng người phía trước đã qua lọt, Phi Ưng Kiếm cố nặn ra một nụ cười

thật dễ mến, nói với gã thị vệ :

- Bọn thảo dân là Phi Ưng Tiêu Cục ở Hàng Châu, xin bái kiến chư vị thị

về đại nhân. Đây là giấy thông hành do tri phủ Chiết Giang cấp !

Lão cung kính đưa ra một quyển sổ mỏng. Gã đội trưởng thị vệ mở ra

xem, thấy tấm ngân phiếu hai trăm lượng bạc của Sơn Tây Tiền Trang, liền nở

nụ cười thân ái :

- Bọn ta đông đến hơn trăm, e rằng không đủ uống rượu, mong Dương

lão phóng tay thêm chút đỉnh !

Dương Mẫn vui vẻ móc ra thêm tờ trăm lượng, đặt vào quyển sổ thông

hành. Gã thị vệ gật gù, vuốt nhẹ đã cuốn tròn hai tờ ngân phiếu vào tay. Gã trả

sổ cho Phi Ưng Kiếm rồi cao giọng :

- Cho qua !

Chính Lan thở dài trước cảnh tượng trái tai gia mắt kia. Chàng nghe lòng

lặng trĩu ưu tư, lo lắng cho giang sơn. Triều đình đã hủ bại như thế này, còn

mong gì chống lại quân Thanh ?

Tám năm trước, thừa lúc nhà Minh suy yếu, giặc cướp nổi lên khắp nơi,

quân Mãn Châu tấn công Trung Hoa, thắng mười vạn quân Minh, lần đầu

chiếm được hết miền Liêu Đông ! Quân Minh nhờ đại pháo của Bồ Đào Nha

chặn chúng lại bên kia Sơn Hải Quan. Quân Thanh quay sang quấy nhiễu

vùng Tây Hạ !Đất nước suy vong, phần lớn do tội của bọn gian thần, tặc tử như bè lũ

Nguỵ Trung Hiền. Chính Lan chỉ mong đến Bắc Kinh thật sớm, vung ba thước

gươm chém đầu lão cẩu Thái Giám và bọn tay sai !

Vì vậy, khi đến Tế Nam, Chính Lan đã chia tay với Phi Ưng Tiêu Cục. Họ

có xa tiêu nên cước trình chậm chạp !

*

* *

Mờ sáng ngày bảy tháng mười, phu thê Chính Lan rời thành Tế Nam.

Trời còn sớm, đường vắng người nên họ có thể phi nước đại. Năm ngày sau,

họ chỉ còn cách Bắc Kinh bốn trăm dặm.

Thấy hai mĩ nhân lộ vẻ mệt mỏi, Chính Lan đành chậm lại, hoà vào đoàn

lữ khách, thong thả dong ruổi. Và khi đến trấn Vĩnh Lộc, ba người dừng

cương, ghé vào một phạn điếm dùng cơm.

Hảo Vị phạn điếm nằm ở đầu Nam của trấn, cơ ngơi rộng rãi, thoáng mát

nên được nhiều lữ khách chiếu cố. Dĩ nhiên, thức ăn của họ cũng phải ngon

miệng !

Chính Lan đã từng đến Bắc Kinh hồi ba năm trước nên biết tiếng quán

cơm này ! Hai mĩ nhân giả trai nên chẳng dám mở miệng, mặc Chính Lan gọi

thức ăn.

Ở vùng núi phía Bắc Hoàng Hà, giờ đã sắp cuối thu, ít ngày nữa tuyết sẽ

rơi, nên cảnh vật nhuốm một màu xám xịt, ảm đạm !

Chưa ăn xong bữa cơm trưa, Chính Lan thoáng nghe tiếng vó ngựa rầm

rọ vọng đến. Lát sau, xuất hiện một toán Cẩm Y thị vệ đông độ hai mươi

người, áp giải hai chiếc xe tù. Đó là loại xe song mã không mui, mỗi xe chở

được hai lồng gỗ nhốt tù nhân. Người tù phải ngồi thò đầu ra ngoài và không

thể rút vào.

Trong bốn chiếc đầu lem luốc vì bụi đất và máu kia có ba chiếc rất đặc

biệt, chúng không hề có tóc. Chính Lan kinh hãi nhận ra Hán Trung Tam

Ngốc. Chúng có vẻ khoẻ mạnh, tỉnh táo hơn người thứ tư. Người này đang gục

mặt xuống, tóc loà xoà phủ kín nên chàng không thấy rõ.

Trưởng toán thị vệ là một lão già râu bạc, da mặt nhăn nheo, sống mũi

lệch hẳn sang một bên. Lão ta đã quá già để làm thị vệ, chắc cũng là cao thủ

tam xưởng cải trang thôi.

Lão ta cất giọng the thé :

- Chúng ta vào ăn cho nhanh rồi lên đường.Hai gã thị vệ đánh xe đứng lên, vung roi quất vào đầu bốn tù nhân, lớn

tiếng đe doạ :

- Khôn hồn thì ngồi im, để bọn lão gia ăn cho ngon miệng. Nếu la lối,

chửi rủa sẽ bị bỏ đói.

Nhát roi kia đã khiến người thứ tư ngẩng đầu lên, quắc mắt nhìn kẻ thù.

Chính Lan rụng rời nhận ra bằng hữu của mình : Vô Nhân Kiếm Khách Hách

Thiết Xuyên.

Tam Ngốc đã về Trường An hú hí với vợ trẻ, còn Thiết Xuyên trở lại Sơn

Tây với từ mẫu, vậy vì sao họ lại cùng bị bắt giải lên kinh ? Chính Lan tự hỏi

như vậy và chàng cũng ngạc nhiên khi thấy toán thị vệ này có thể bắt sống

được họ. Như vậy, lão già đeo kim bài trên ngực áo kia ắt phải rất lợi hại.

Lúc này, bọn thị vệ đã ngồi cả xuống lột nón ra. Nhờ vậy, Chính Lan mới

nhìn rõ lão trưởng toán có đôi mắt một lớn một nhỏ rất quái dị.

Chính Lan truyền âm nói rõ sự tình cho hai ái thê nghe. Tố Bình liếc về

phía bàn đám thị vệ, biến sắc thì thầm :

- Tướng công ! Lão già kia chính là Âm Dương Quỉ Tẩu Lưu Phong ở đất

Phúc Kiến. Pho Âm Dương Lạc Hồn Chưởng của lão toả độc khí vô cùng lợi

hại. Mười năm trước lão chạm trán gia phụ, bị đả bại nên mai danh ẩn tích,

không ngờ lại đầu nhập Tam Xưởng ?

Chính Lan gật đầu, tư lự bảo :

- Cướp tù chẳng khó nhưng phải ra tay êm thắm, không để bất cứ tên nào

sống sót. Nếu không Nguỵ Trung Hiền sẽ biết chúng ta đã đến Bắc Kinh và rải

đại quân truy bắt.

Chợt một gã thị vệ thấp béo bước ra, tay cầm bình rượu và một con gà

luộc. Gã đến cạnh chiếc xe tù cười hăng hắc :

- Đứa nào mở miệng chửi Hồng Nhất Điểm, đại gia sẽ thưởng cho rượu

thịt !

Hách Thiết Xuyên liền phun nước miếng vào mặt gã thị vệ. Nhưng do

khí lực cạn kiệt, bãi nước bọt chẳng đến nơi được !

Chính Lan thấy rõ Hán Trung Tam Ngốc nuốt nước miếng ừng ực, trố

mắt nhìn miếng thịt gà. Chắc chúng phải chịu đói khát khá lâu rồi !

Nhị Ngốc Hồ Giả ngập ngừng bảo :

- Hay là ngươi cho bọn ta ăn uống no bụng, lúc ấy mới có khí lực mà chửi

chứ ?

Gã thị vệ cười nhạt :

- Đại gia đâu phải là con nít mà mắc lừa ?

Nhị Ngốc cụt hứng im luôn. Gã thị vệ cười vang trở vào trong quán.Ở ngoài này, Tam Ngốc bàn bạc với Nhị Ngốc :

- Hay là chúng ta cứ chửi đại ca vài câu có sao đâu ? Thứ nhất là đại ca

không hề nghe thấy. Thứ hai, đại ca là người rộng lượng, nếu có biết chúng ta

chửi vài câu chắc cũng không nỡ trách. Cổ nhân chẳng có câu cái gì mà... Ngộ

biến tùng quyền đấy sao ?

Nhị Ngốc phân vân :

- Xem ra tam đệ nói cũng có lý, ta nhịn đói hết nổi rồi.

Nhưng Đại Ngốc Hồ Đạo Tĩnh đang bị nhốt chung xe với Thiết Xuyên đã

mắng ngay :

- Hai ngươi quả là phường đốn mạt. Sao không nhớ ba năm trước bị quan

quân gông cổ đưa về đại lao Hán Trung chờ chém, được Âu Dương đại ca cứu

mạng. Nay nỡ vì miếng ăn mà chửi rủa người ơn được ư ?

Thiết Xuyên cười nhạt :

- Cứ để chúng chửi. Ta đảm bảo cứ chửi rủa Chính Lan ngàn lời cũng

chẳng được miếng nào đâu.

Tam Ngốc chụp ngay cơ hội cười hì hì bảo :

- Vậy để ta chửi thử vài câu, xem như đánh cuộc với Hách huynh một

chuyến.

Thiết Xuyên chua chát nói :

- Nếu chửi mà thoát chết thì cũng đáng. Bằng chửi để đổi lấy miếng thịt

thì sao xứng với danh võ sĩ ?

Chính Lan đã nghĩ ra phương thức đoạt tù, liền bước ra ngoài sân, giả đò

xem xét móng ba con tuấn mã. Từ đây đến tù xa chỉ cách hơn trượng. Chàng

vận công truyền âm nói với Thiết Xuyên :

- Hách huynh ! Tại hạ là Chính Lan đây !

Thiết Xuyên giật bắn mình, nhìn về phía lão già đang ngồi dưới chân lũ

ngựa. Đôi mắt ánh lên niềm hoan hỷ phi thường và chứa chan tình cảm.

Chính Lan liền nói sơ kế hoạch của mình, rồi trở vào quán gọi tiểu nhị tính

tiền cơm. Ba người lên ngựa đi ngay không hề nhìn bốn người tù đến nửa con

mắt. Nhị Ngốc Hồ Giả bỗng lẩm bẩm :

- Lạ thực ! Hai gã mặt đen kia sao lại có đôi mông tròn trịa đầy đặn thế

nhỉ ?

Câu nói này không thoát khỏi thính lực của hai mĩ nhân. Tiểu Linh Thố

đỏ mặt, hậm hực nói :

- Gã ngốc kia sắp chết mà còn nói bậy. Lát nữa sẽ biết tay ta.

Thi Mạn cười khúc khích :- Có phải chính gã Hồ Giả ấy đã tứng gọi Bình thư là con mắm đấy

không?

Chính Lan mỉm cười :

- Nhanh chân lên, chúng ta phải đến chỗ mai phục trước bọn thị vệ.

Ba con ngựa tung vó phi mau về hướng bắc. Lúc này, Vô Nhân Kiếm

Khách chợt cao giọng gọi :

- Lưu đại nhân ! Hách mỗ có chuyện muốn thương lượng.

Âm Dương Quỉ Tẩu ngạc nhiên bước ra hỏi :

- Sao ngươi biết lão phu họ Lưu ?

Thiết Xuyên cười mát :

- Thanh danh của Âm Dương Quỉ Tẩu Lưu Phong lừng lẫy võ lâm, lẽ nào

tại hạ lại không biết ?

- Thế ngươi muốn nói gì ?

Thiết Xuyên buồn rầu đáp :

- Tại hạ còn từ mẫu phải phụng dưỡng, chẳng thể vì Hồng Nhất Điểm mà

lỗi đạo được. Nay y đắc tội với triều đình, tại hạ đành phải đoạn bào tuyệt giao

thôi. Nếu đại nhân khai ân không bắt tội tại hạ và Hán Trung Tam Ngốc,

Hách mỗ xin dẫn đường đến chỗ hẹn với Âu Dương Chính Lan.

Ba gã ngốc tròn mắt sửng sốt, không ngờ Thiết Xuyên lại trở mặt bán rẻ

Chính Lan. Đại Ngốc mở miệng mắng ngay :

- Thiết Xuyên ! Không ngờ ngươi lại là hạng người xấu xa như vậy, ta

thật...

Bỗng gã nhớ lại rằng cả bọn chưa hề hò hẹn với Chính Lan bao giờ. Bốn

người kéo nhau đi Bắc Kinh là do bang chủ Cái Bang Đại Đầu Cái cho đệ tử

đưa thư đến, báo rằng Chính Lan áp tải Thiên Niên Hà Thủ Ô đi Bắc Kinh,

đang gặp rất nhiều cường địch.

Đại Ngốc lờ mờ hiểu rằng họ Hách đang âm mưu gì đấy, nên không chửi

mắng nữa. Nhưng lại đến lượt Nhị Ngốc, gã bô bô nói :

- Cháy nhà ra mặt chuột ! Thế mà lúc nãy dám nên mặt giáo huấn bọn ta.

Tam Ngốc cũng đang định chửi tiếp nhị ca thì Thiết Xuyên gầm lên :

- Nếu các ngươi muốn chết vì Chính Lan thì ta cũng chẳng cần. Đừng

nhiều lời nữa.

Ba gã ngốc im ngay, cho rằng sống dĩ nhiên tốt hơn chết. Sau này họ còn

cơ hội tố cáo Thiết Xuyên với Chính Lan. Âm Dương Quỉ Tẩu thấy thái độ nét

mặt của Hán Trung Tam Ngốc rất thành thực, liền tin ngay. Lão vui vẻ nói :- Đông Xưởng chỉ cần bắt được Hồng Nhất Điểm, chư vị chịu khai báo

tất sẽ vô can.

Thiết Xuyên ngượng ngùng nói :

- Hắn ta hẹn là không bao giờ sai rồi, chẳng chạy đâu cho thoát được.

Trước tiên, mong đại nhân cho bọn tại hạ ăn no cái đã. Đã mấy ngày rồi có

được miếng nào đâu ?

Lưu Phong cười ha hả :

- Lão phu thật có lỗi, xin chờ một lát.

Lão bảo bọn thủ hạ vào quán mua mấy cân thịt và vò rượu, đút cho bốn

tù nhân ăn thật no.

Hai khắc sau, toán thị vệ hớn hở lên đường, chắc mẩm phen này sẽ lập

được công to. Âm Dương Quỉ Tẩu càng bội phần hoan hỉ khi nghĩ đến nhánh

Thiên Niên Hà Thủ Ô. Nguỵ Trung Hiền đã hứa sẽ thưởng báu vật ấy cho ai

giết được Hồng Nhất Điểm. Khoảng giữa giờ thân, đoàn xa mã đi đến một

cánh rừng âm u, cách trấn Vĩnh Lộc chừng ba mươi dặm. Hách Thiết Xuyên

ra hiệu dừng lại. Gã chỉ vào đường mòn bên hữu nói với Lưu Phong :

- Lưu đại nhân ! Chính Lan và hai phu nhân hiện đang ở trong một ngôi

miếu cổ cách đây chừng hơn nửa dặm. Võ công y rất cao cường, thính giác

tinh tường, mong chư vị cẩn thận cho.

Âm Dương Quỉ Tẩu là người cơ cảnh, liền bảo một tên thị vệ :

- Ngươi vào trước điều nghiên địa hình, nhưng không được đến gần.

Gã thị vệ gầy gò ấy liền xuống ngựa, phi thân vào rừng. Gần khắc sau gã

trở lại báo cáo :

- Bẩm đường chủ ! Quả thực có một ngôi miếu cổ, trong có tiếng người

đang trò chuyện. Chung quanh là bãi cỏ trống, không có gì khả nghi.

Quỉ Tẩu hài lòng cắt bốn tên thị vệ ở lại canh giữ tù xa, đưa mười lăm tên

vào rừng. Tất nhiên bọn họ phải đi bằng đôi chân vì cưỡi ngựa sẽ dễ bị lộ.

Chiều thu trời tối sớm, gió lạnh lồng lộng từng cơn. Bốn gã thị vệ uể oải

xuống ngựa, đừng gần nhau tán gẫu - mắt hướng về hai xe tù.

Nửa khắc trôi qua, khi bọn Âm Dương Quỉ Tẩu đền gần cổ miếu thì

ngoài bìa rừng phát sinh tai hoạ. Từ trên những tàn cây rậm rạp, ba bóng

người lao xuống đầu bọn canh tù. Ánh kiếm mịt mờ lạnh lẽo và nhanh như

thiểm điện.

Bốn gã thị vệ kia đang nhìn ra ngoài, nên khi tử thần đến từ phía sau, họ

chết mà không biết vì sao. Bốn chiếc thủ cấp lăn lông lốc trên mặt đường và

chẳng hề có tiếng kêu than.Ba bóng ấy chính là lão già râu dài và hai hán tử có đôi mông tròn trịa.

Lão nhân vung kiếm phá cũi gỗ và chặt phăng cả xiềng thép. Lão bồng Thiết

Xuyên nhảy xuống đất. Ba gã ngốc cứ tưởng hai hán tử kia cũng giúp mình,

nào ngờ một gã co giò đạp vào mông Nhị Ngốc Hồ Giả, gã văng khỏi xe lăn vài

vòng, đứng lên ngơ ngác hỏi :

- Sao các hạ lại đạp ta ?

Hán tử thứ hai lướt đến, vung tay tát vào mặt gã và rít lên the thé :

- Từ nay ngươi còn dám bình phẩm cơ thể chị em ta nữa hay không ?

Lão nhân râu dài nạt ngang :

- Thi Mạn ! Chúng ta đâu có thời gian để đùa giỡn ?

Ba gã ngốc nhận ra giọng Chính Lan, vừa mừng vừa sợ, sụp cả xuống gọi :

- Đại ca ! Đại tẩu !

Lo sợ nhất vẫn là Tam Ngốc, gã đã nghĩ ra ý định chửi mắng chàng để

kiếm miếng ăn.

Chính Lan nghiêm giọng :

- Ba ngươi nhặt lấy mấy thanh đao kia, mang Thiết Xuyên ẩn vào chỗ kín

đáo, chờ ta diệt trừ xong bọn Âm Dương Quỉ Tẩu.

Nói xong, chàng trao Thiết Xuyên cho tam ngốc rồi cùng hai mĩ nhân đi

ngược vào rừng. Đến giữa đường Chính Lan và Tố Bình nhảy lên một tán cây,

còn Thi Mạn tiếp tục đi. Gần đến nơi bọn Quỉ Tẩu ẩn nấp nàng mới trèo lên

cây.

Lúc này, Lưu Phong và thuộc hạ nhất thời ập vào ngôi cổ miếu đang leo

lét ánh đèn kia. Nhận ra không có ma nào, Quỉ Tẩu kinh hãi gầm lên :

- Chết rồi ! Chúng ta đã trúng kế điệu hổ ly sơn.

Bọn thị vệ xúm lại quanh lão chờ lệnh. Một tên nói :

- Bẩm đường chủ, trên đường đi nào có ai tiếp xúc với bọn tù nhân đâu ?

Quả thực trong miếu vẫn còn mùi phấn thoang thoảng. Hay là Hồng Nhất

Điểm kịp thời phát hiện ra gã Trương ốm đã chuồn mất.

Tên thị vệ trinh sát cãi liền :

- Ngươi đừng nói càn. Ta ở cách xa đến năm trượng, làm sao hắn biết

được ?

Quỉ Tẩu bực bội quát :

- Không cãi nữa. Cứ rút ra ngoài xem tù xa còn hay không ?

Lão đi đầu, thận trọng quan sát và dồn công lực vào song thủ phòng bị

cẩn mật. Trong rừng thiếu ánh sáng nên chẳng ai phát hiện một màn sươngmờ nhạt lơ lửng trước mặt, thản nhiên đi xuyên qua. Đây chính là đàn cổ

trùng độc đáo của Thi Mạn. Nàng chờ chúng qua khỏi, thu hồi đám mây cổ

độc, rón rén theo sau.

Quỉ Tẩu đi mãi chẳng thấy ai tấn công cũng bị lơi lỏng, rảo bước nhanh

hơn. Bất ngờ, từ trên tán cây mé tả, một luồng kiếm quang lạnh lẽo chụp

xuống đầu lão Ma.

Chính Lan không biết rằng công lực mình đã tăng tiến vượt bậc nên dồn

hết sức mình vào chiêu Kim Ô Tây Trầm. Thanh Long Tuyền Kiếm được phổ

chân khí, ánh thép toả ra xanh biêng biếc.

Quỉ Tẩu kinh hoàng trước chiêu kiếm mãnh liệt, cử chưởng giáp mạnh

vào màn kiếm quang kia. Âm Dương Lạc Hồn Chưởng mang hai màu hắc

bạch và toả mùi hăng hắc. Nhưng do bị động lão chỉ dành được có tám thành

công lực, và không sao chặn nổi đường kiếm của đối phương.

Long Tuyền Kiếm xé nát chưởng kình, ập vào thân trên Lưu Phong. Lão

rú lên ảo não, hai tay bị chặt cụt và thân trước thủng lỗ chỗ như đáy rổ.

Lúc này, Tố Bình cũng đã nhảy xuống tấn công đám thị vệ. Thi Mạn từ

phía sau nên khép kín gọng kìm. Nàng phát động cổ trùng, đám thị vệ ôm

ngực lảo đảo, trở thành mồi ngon cho phe Chính Lan. Chàng căm hận bọn

Đông Xưởng tiếp tay bọn Nguỵ Trung Hiền lũng đoạn triều cương, hà hiếp

lương dân, nên giết không thương tiếc. Chỉ nửa khắc sau đã chẳng còn một

tên sống sót.

Ba người kéo mười sáu tử thi vào sâu trong rừng, rồi trở ra ngoài gọi Hán

Trung Tam Ngốc. Hai chiếc xe tù và bầy ngựa cũng được đưa cả vào rừng.

Tóm lại Chính Lan phi tang tất cả để xoá dấu vết. Phe Nguỵ Trung Hiền sẽ

chẳng bao giờ biết được vì sao thủ hạ mình biến mất.

*

* *

Sáng hôm sau có một đoàn lái buôn gồm bảy người áp tải một xe hàng đi

lên hướng Bắc. Trên xe là một bao da thoang thoảng bốc ra mùi dược thảo.

Cây thuốc phơi khô tất chẳng nặng nề gì, bởi vậy xe song mã chạy khá nhanh.

Bọn Đông Xưởng đã chưng dụng xe hàng để chở cũi tù, nên giờ đây bọn

Chính Lan mới có mà sử dụng.

Còn thảo dược thì sao ? Ba năm trước Chính Lan đi ngang đoạn đường

này, nghe tiếng cọp rống từ trong rừng và người la hét cầu cứu, liền chạy vào,

kịp thời giết mãnh thú cứu mạng hai lão đại sư già. Họ là người của ngôi miếu

trong rừng, trồng cây thuốc bán cho dân. Nhờ thế Chính Lan quen biết họ, và

có nơi để bày mưu cứu các tù nhân.Giờ đây Chính Lan chất hết số thuốc khô của miếu lên xe, chở về Bắc

Kinh. Đương nhiên Thiết Xuyên và ba gã ngốc đều được cải trang, vũ khí giấu

kín dưới gầm xe.

Càng đến gần kinh đô, lực lượng thị vệ xuất hiện càng nhiều. Nhưng

chúng không biết rằng nhân số bọn Chính Lan đã tăng gấp đôi, chẳng để ý đến

bảy kẻ quê mùa kia.

Gia dĩ, Tây Môn Tố Bình đã dịch dung rất cẩn thận, và mượn cả thẻ thuế

thân của bảy người công nhân trong cổ miếu. Vì vậy, bọn Chính Lan đi trót

lọt đến Bắc Kinh, đúng ngày rằm tháng mười.

Xe thảo dược cồng kềnh và bộ vó chất phác bắt buộc họ phải trọ trong

một khách điếm hạng bét ở ngoại thành phía nam.

Ngay chiều hôm ấy, Tiểu Linh Thố lại hoá trang lần nữa, biến Chính Lan

thành một vị lang trung đạo mạo, và Thi Mạn thành một tiểu đồng đeo rương

thuốc.

Theo lời dặn dò của Quí Thành Lâm, Chính Lan đến tư dinh của Trương

Đại Học Sĩ, người chấp chưởng Văn Hoa Điện.

Sau khi lên ngôi, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đã bãi bỏ cơ quan

Trung Thư Tĩnh, không dùng tể tướng, đích thân chỉ huy lục bộ (Lại, Lễ,

Hình, Binh, Hộ, Công). Ông còn lập ra bốn điện (Văn Hoa, Vũ Anh, Trung

Cực, Kiến Cực) và hai các (Văn Uyên Các, Đông Các) với các Đại Học Sĩ để

làm cố vấn cho ông. Sau đời Minh Thành Tổ, các vua cởi mở một chút, cho

bọn Đại Học Sĩ ấy tham dự triều chính, gọi là nội các.

Đến thời Minh Mạt, nội các bị đám hoạn quan nắm lần lần. Sùng Trinh

lên ngôi, có ý muốn tiêu diệt Nguỵ Trung Hiền và bọn hoạn quan nên trọng

các Đại Học Sĩ. Vì vậy Trương Nguyên Khải là một trong những người thân

tín nhất của Thiên Tử, có quyền ra vào tử cấm thành bất cứ lúc nào.

Thành Bắc Kinh chia làm hai phần nội thành và ngoại thành. Tư dinh

của Trương Đại Học Sĩ nằm ở ngoại thành, cách cửa Ngọ Môn chừng hơn

dặm.

Họ Trương là người liêm khiết nên cơ ngơi giản dị, khiêm tốn. Mảnh đất

vua ban khá rộng nhưng Đại Học Sĩ chỉ xây một căn nhà nhỏ ba gian, diện tích

còn lại trồng hoa và cây cối.

Chung quanh rào vây là hàng tùng bách, cạnh đông có vài bụi trúc và

mấy cây hàn mai. Mùa xuân ở Bắc Kinh rất lạnh nên chỉ có loại mai quí này là

trổ bông. Khắp nơi, lác đác những bụi hoa đủ loại, nhưng không hề có giả sơn

hay chậu cảnh, và cũng chẳng có những lồng chim sơn son như phủ đệ của các

đại thần khác.

Chính Lan buột miệng khen :

- Trương Đại Học Sĩ quả là người quân tử hiếm có.Thi Mạn mỉm cười :

- Tướng công chưa thấy mặt sao đã vội khen ?

Chính Lan ôn tồn giải thích :

- Không phải vì vẻ thanh bạch, giản dị kia mà ta nhận xét như vậy. Nàng

thấy không, ở đây cây cỏ đều sinh trưởng rất tự nhiên, không hề bị sửa sang

hay thúc ép ? Bậc thiện nhân muốn nghe chim hót thì vào rừng, muốn xem cá

lội thì đến ao hồ, chứ không thích nhìn cảnh cá chậu chim lồng. Còn như

muốn thưởng thức vẻ đẹp của núi non thì chống gậy trúc tìm đến ngũ nhạc,

chứ không ngắm mấy hòn đá nhỏ bé mà tự mãn. Họ Trương là bậc thiện nhân

ấy đấy.

Thi Mạn gượng đáp :

- Đạo lý cao xa ấy thiếp chẳng dám lạm bàn.

Chợt từ trong nhà có một gã gia đinh trẻ tuổi đi ra, cao giọng hỏi :

- Nhị vị tìm ai vậy ?

Chính Lan hoà nhã đáp :

- Dám hỏi Trương Đại Học Sĩ có nhà không ? Tại hạ có việc muốn cầu

kiến.

Gã gia đinh cau mày hỏi lại :

- Danh tính nhị vị là gì, ở đâu đến ?

Chính Lan biết ngay Trương Nguyên Khải có nhà, chàng vui vẻ bảo :

- Các hạ cứ vào bẩm rằng có người của Bố Chánh Sứ Ty Tích Giang đến

bái kiến.

Gã gia đinh quay vào, lát sau trở ra, kính cẩn mời khách nhập trang.

Trương Đại Học Sĩ đang ngồi cạnh bàn bát tiên. Thấy khách vào đến,

đứng lên đón chào, mời họ an toạ.

Chính Lan thấy lão dung mạo đoan chính, râu ba chòm đen nhánh, đoán

là người mình cần tìm. Chàng cung kính nói :

- Tại hạ được Hữu Bộ Chánh Sứ Tích Giang uỷ nhiệm mang Thiên Niên

Hà Thủ Ô đến trao cho đại nhân, để dâng lên Hoàng Thượng !

Chàng trao cho lão bản tấu chương và hộp vàng đựng kỳ trân. Trương

Đại Học Sĩ mở ra kiểm tra cẩn thận, gật gù hài lòng. Lão đem cho tên gia đinh

đem vào trong cất rồi vui vẻ hỏi :

- Vì sao Lâm Bố Chánh phải nhờ các hạ, mà không giao cho khâm sứ ?

Chính Lan mỉm cười :

- Có lẽ ông ta sợ rằng khâm sứ hớ hênh, không bảo toàn nối báu vật !Trương Nguyên Khải lắc đầu cười nhạt :

- Họ Lâm đã trúng kế của Thiên Tuế rồi ! Viên thái giám kia là em ruột họ

Nguỵ, được Thánh Thượng giao trọng trách mang kỳ trân về. Điều này khiến

Nguỵ công công khó xử vì ông ta hoàn toàn không muốn nhánh Thiên Niên

Hà Thủ Ô về đến Bắc Kinh, và cũng không thể để bào đệ mất đầu ! Do vậy

Nguỵ công công đã bày mưu, bảo em mình khua chiêng gõ mõ, khiến Lâm Bố

Chánh sợ hãi, nhờ cao thủ âm thầm áp tải bảo vật...

Không chờ lão nói hết câu Chính Lan vung chưởng giáng vào ngực lão ta.

Dường như lão đã đề phòng nên tung mình rời khỏi chỗ nhanh như chớp giật

và bật cười khanh khách :

- Giỏi cho Hồng Nhất Điểm xem ra ngươi cũng thông tuệ đấy !

Thì ra Chính Lan có thính giác siêu tuyệt nên đã phát hiện ra tiếng chân

nhiều người ở bên ngoài. Cộng với cách họ Trương gọi Nguỵ Trung Hiền là

Cửu Thiên Tuế công công khiến chàng sinh lòng hoài nghi. Thứ hai, Trương

Đại Học Sĩ chẳng thể nào biết được âm mưu của Nguỵ Trung Hiền và Khâm

Sứ. Thứ ba, đối phương nói rất lâu mới đổi hơi, biểu hiện công lực thâm hậu

chứ chẳng văn nhược như một Đại Học Sĩ.

Chính Lan đánh hụt một chưởng giận dữ gầm lên, rút kiếm lao đến tấn

công tên giả mạo kia. Thi Mạn cũng vội múa tít Kim Xà đối phó với bọn thị vệ

chúng đã ập vào đến tận trong nhà. Chính Lan nóng ruột vì kỳ trân bị đoạt

mất, dồn hết công lực vào chiêu Đại Giang Đông Khứ, kiếm kình lớp lớp cuồn

cuộn như sóng Trường Giang cuốn đến.

Lúc này, trên tay đối phương đã xuất hiện hai chiếc vòng thép đen tuyền,

cạnh có răng cưa, đường kính độ hơn gang, lão múa tít Song Hoàn, tạo lên

màn hắc quang vô cùng kín đáo. Nhưng lão không biết rằng thanh kiếm trong

tay Chính Lan lại là thần vật. Long Tuyền Kiếm phá tan hắc quang và lướt vào

cơ thể của lão. Kẻ xảo quyệt kia rú lên đau đớn, toàn thân đẫm máu, đầu rời

khỏi cổ.

Chính Lan quay lại hợp sức cùng Thi Mạn. Chỉ vài chiêu đã giết tám tên,

đẩy bật bọn thị vệ ra ngoài. Chàng buồn bã nói :

- Kỳ trân đã mất, ta biết ăn nói làm sao với Thánh Thượng đây ?

Thi Mạn cười mát :

- Y đạo của tướng công và thiếp thừa sức cứu Thiên Tử, trước mắt phải

thoát cho được khỏi chốn này.

Dứt lời, nàng rải liền hai trái Đảo Thiên Thần Đạn rồi kéo Chính Lan

thoát ra. Tiếng nổ kinh thiên động địa kia đã khiến bọn thị vệ hồn phi phách

tán. Chỉ vài tên bỏ mạng nhưng cả đám dạt ra ngay. Phu thê Chính Lan múa

tít vũ khí, nương theo khói bụi phi nhanh ra ngoài. Khi bọn thị vệ hoàn hồn

thì hai người đã biến mất.Tên thủ lĩnh thị vệ giận dữ quát vang :

- Đuổi theo !

Bọn thị vệ ùn ùn chạy đi lấy ngựa, chia nhau toả ra, cố tìm cho được

Hồng Nhất Điểm. Nhưng màn đêm đã buông, che chở cho phu thê Chính Lan

về đến quán trọ an toàn.

Cả bọn xúm lại hỏi han. Chính Lan buồn bã kể lại việc Nguỵ Trung Hiền

biết rõ mối quan hệ giữa Lâm Bố Chánh và Trương Đại Học Sĩ, cho người giả

dạng họ Trương đoạt lấy kỳ trân và vây bắt chàng. Vô Nhân Kiếm Khách cau

mày :

- Nếu tại hạ không lầm thì lão già sử dụng Song Hoàn kia là một trong

bốn đại ma đầu ở Ngũ Đài Sơn. Võ công của anh em Phi Hoàn Tứ Lão rất lợi

hại, mỗi người trong bọn đều có thể sánh với Tây Môn lão gia. Nhưng việc lão

ta bị công tử giết bằng chỉ một chiêu khiến tại hạ phân vân.

Thi Mạn và Tố Bình lén nhìn nhau, mỉm cười đắc ý. Chính Lan bác ngay:

- Nếu vậy thì chắc là không phải Phi Hoàn Tứ Lão. Bản lãnh tại hạ chỉ

cao hơn nhạc phụ một bậc.

Thực ra, với bản lãnh hiện tại, chàng cũng khó mà đả bại lão già kia một

cách mau chóng được. Chẳng qua đối phương không ngờ chàng có đến hơn

hoa giáp công lực và thanh thần kiếm Long Tuyền.

Nhị Ngốc ấp úng hỏi :

- Đại ca ! Nay Thiên Niên Hà Thủ Ô đã mất, chúng ta còn ở lại đây làm gì

nữa ?

Chính Lan cười nhạt :

- Phen này ta đến kinh sư cốt là để giết lão cẩu thái giám Nguỵ Trung

Hiền, dẫu chết cũng chẳng từ nan. Ba ngươi cứ trở về Trường An trước đi.

Ba gã Ngốc sợ hãi im lặng, chẳng dám mở miệng nữa. Thiết Xuyên gật

gù:

- Quả là một ý tưởng tuyệt diệu. Nhưng trước hết phải vào hoàng cung

xem bệnh tình Sùng Trinh thế nào cái đã.

Tây Môn Tố Bình trổ tài Gia Cát :

- Sáng mai, chúng ta cố gắng điều tra cho ra tư dinh của quan Thái y, bắt

cóc lão và tướng công hoá trang thành lão mà vào cung. Mạn muội sẽ theo

chàng để chuẩn bệnh cho hoàng thượng.

Chính Lan lắc đầu :

- Ý của ta lại khác. Thiên Tử lâm bệnh tất thái y phải túc trực trong cung,

không được về nhà, làm sao bắt được lão ? Đêm nay ta và Thi Mạn sẽ đột nhập

tử cấm thành.Thiết Xuyên mỉm cười :

- Hoàng cung rắc rối như mê trận, biết Thánh Thượng nằm ở đâu mà

tìm?

Chính Lan dịu giọng :

- Tiêu nhạc phụ từng làm Viên ngoại Lang bộ lễ vài năm, người đã chỉ

dẫn rõ ràng từng đường đi nước bước. Long nhan bị bệnh tất phải nằm ở cung

Càn Thanh, phía sau tử cấm thành.

Tố Bình lo lắng :

- Nếu vậy bọn thiếp cũng đi theo, lỡ tướng công gặp rắc rối còn có người

tương trợ. Thị vệ trong cung đông như kiến cỏ, thiếp chẳng an tâm chút nào.

Chính Lan đồng ý :

- Thế cũng được ! Chư vị cứ nép bên ngoài thành, khi nào nghe tiếng hú

thì vào giải vây.

Đầu canh hai đêm ấy, bốn người nai nịt gọn gàng, toàn thân hắc y, đi bọc

vòng ngoài để đến mạn tây thành. Hán Trung Tam Ngốc quá nặng nề, không

vượt nổi bức tường thành cao ba trượng nên phải ở nhà.

Chưa vào đông mà tiết trời lạnh lẽo, vầng trăng rằm mờ nhạt, ẩn hiện sau

lớp mây mù. Nửa canh giờ sau, bọn Chính Lan đã có mặt dưới chân Nguyệt

Đàn, rồi từ đó tiến vào thành.

Bắc Kinh có năm đàn để Thiên Tử tế lễ, đó là Nhật, Nguyệt, Thiên, Địa,

Thần Nông. Nhật Đàn ở hướng Đông. Nguyệt Đàn ở hướng Tây, Địa Đàn ở

hướng Bắc, còn Thiên Đàn và Thần Nông Đàn toạ lạc song song với nhau ở

hướng Nam trong phạm vi ngoại thành và hai bên đường trục chính Bắc Nam.

Bốn người lần lượt vượt tường thành, tường hoàng thành, đến được phía

sau Tử Cấm Thành bên kia tường chính là Ngự Hoa Viên.

Vườn Thượng Uyển này nằm ngang sau lưng tẩm cung, có diện tích độ

hơn ngàn trượng vuông. Ở đây, rất nhiều đình, đài, lâu, các, kỳ hoa, dị thảo.

Ngoài những loại cây của miền Bắc Trung Hoa, còn tuỳ theo từng thời tiết

từng mùa, trồng xen những bồn hoa, cây cảnh phương Nam, quan lại các địa

phương đã gửi về những tảng đá quí, hình thù kỳ tú nên giả sơn của Ngự Hoa

Viên đặc sắc hơn bất cứ vườn cảnh nào.

Nhưng muốn vào được bên trong, trước hết phải vượt qua một hoà nước

rộng đến mười sáu trượng, và bức tường sơn màu đỏ tía cao ba trượng. Hào

nước này dài sáu dặm, bao bọc cả chu vi tử cấm thành.

Chính Lan ngần ngại hỏi Thi Mạn :

- Nương tử liệu có đủ hơi lặn một mạch sang bờ bên kia không ?

Miêu nữ mỉm cười :- Tướng công yên tâm ! Thiếp ở cạnh bờ sông Tây Giang nên rất thông

thạo thuỷ tính.

Chính Lan quay sang dặn dò Thiết Xuyên và Tố Bình. Nhưng Tiểu Linh

Thố đã phụng phịu nói :

- Đã vào đến đây, lẽ nào tướng công không cho thiếp và Hách huynh

theo với. Ở ngoài này chỉ thêm nóng ruột mà thôi.

Chính Lan mỉm cười chịu thua :

- Thôi được ! Chúng ta cùng đi vậy.

Bốn người tụt xuống mép nước, lặn một hơi đến bụi lau lẻ loi ở bờ bên

kia. Chỗ này còn cách chân tường thành đến bốn trượng. Trên mặt thành,

bọn cấm quân qua lại tuần tra rất nghiêm chỉnh.

Bọn Chính Lan nhẫn nại ngâm mình dưới dòng nước lạnh buốt, chờ đợi

cơ hội. Và khi vầng trăng bị đám mây đen che phủ, họ lao nhanh về phía chân

tường.

Chính Lan vận khẩu quyết chữ Hấp, thi triển Bích Hổ công trườn lên.

Thân hình chàng dán sát vào mặt tường dựng đứng, thoăn thoắt bò đi như

thằn lằn. Đến đầu tường, chàng bám chặt lấy mép, và ba người ở dưới lần lượt

đu theo sợi dây chão cột ở thắt lưng Chính Lan mà lên. Họ không đủ công lực

để thi thố Bích Hổ Công.

Lát sau, cả bốn người đều đã bám được cánh bức tường, hồi hộp chờ đợi

đám cấm quân cầm đuốc đi qua. May thay, chúng chỉ dương mắt nhìn xuống

mặt hào nước nên không phát hiện ra có bốn thân hình đang treo lơ lửng dưới

chân.

Chờ ánh đuốc xa hẳn, bọn Chính Lan nhanh chóng vượt tường nhảy

xuống bên trong. Chính Lan đi trước một bước êm ái hạ thân và đỡ lấy ba

người kia. Trăng lại mờ đi, giúp họ an toàn vượt qua vườn hoa, tiến gần đến

mặt sau Càn Thanh Cung.

Chính Lan mừng rỡ nhận thấy một phòng ở mé hữu còn sáng đèn, và

vọng ra tiếng ho khúc khắc. Không phải là hướng gió nên cánh cửa sổ tròn

phía Bắc vẫn mở để phòng bệnh nhân được thông thoáng. Bốn người áp sát,

ẩn mình sau bụi hoa mà nhìn vào.

Trên long sàng là một chàng trai tuổi độ mười tám, gương mặt anh tuấn

nhưng xanh xao, nhợt nhạt. Ngồi ở mép giường là một mĩ nhân trẻ trung,

đang bóp chân cho người bệnh. Đứng hầu là viên thái giám già và quan Thái

Y. Còn cuối phòng là bảy vị đại thần đang ngồi dật dựa trên ghế, mắt nhắm,

mắt mở.

Chính Lan truyền âm bảo Thi Mạn :

- Làm sao đuổi được hết đám người kia đi ?Thi Mạn mỉm cười, hé miệng thổi đàn cổ trùng vào phòng và lâm râm

niệm chú. Lát sau, trừ Sùng Trinh hoàng đế, mười người kia đều nhất loạt hắt

hơi loạn cả lên. Không phải một cái mà là hàng chục cái liên tiếp.

Sùng Trinh mở mắt bực bội phán :

- Các khanh hãy lui cả ra, đừng ở đây quấy nhiễu trẫm nữa. Ta không

muốn nghe bất cứ tiếng động nào.

Thế là cả bọn vội rời phòng, hoàng hậu cũng vậy. Họ đi rất xa vì cơn hắt

hơi xổ mũi vẫn tiếp tục hoành hành. Trong phòng chỉ còn lại một mình Thiên

Tử. Chính Lan và Thi Mạn lập tức lao qua khung cửa sổ vào trong.

Sùng Trinh kinh hãi nhưng vì nghĩ mình sắp chết vì bệnh hoạn, nên

không sợ hãi nữa. Ông giương mắt nhìn hai người áo đen chờ đợi. Thi Mạn

chạy ra gài chặt cửa chính, đứng trấn giữ, còn Chính Lan phục xuống nói :

- Khải tấu Thánh Thượng ! Thảo dân là người của quan Bố Chánh Sứ ty

Tích Giang Lâm Hưng, được lệnh mang Thiên Niên Hà Thủ Ô về đây dâng

Thiên Tử.

Sùng Trinh mừng rỡ, gượng ngồi lên rồi hỏi :

- Lâm Bố Chánh là bằng hữu thâm giao của Đại Học Sĩ Trương Nguyên

Khải, sao tráng sĩ không giao kỳ trân cho Trương khanh đem vào cung ?

Chính Lan buồn rầu đáp :

- Khải tấu Thánh Thượng ! Thảo dân theo lời Lâm Bố Chánh, đến tìm

Trương Đại Học Sĩ. Nhưng tiếc rằng họ Trương đã biến mất và trong nhà toàn

là tay chân của Nguỵ Trung Hiền. Lão đã cho người giả làm Trương Học Sĩ,

đoạt lấy bảo vật rồi.

Sùng Trinh đau đớn nói :

- Lão cẩu tặc kia quả là ác độc, phen này mạng trẫm khó vẹn toàn.

Chính Lan nghiêm giọng :

- Muôn tâu ! Thảo dân và chuyết thê đều tinh thông y đạo, dẫu không có

Thiên Niên Hà Thủ Ô cũng sẽ tận lực chữa trị cho long nhan.

Sùng Trinh như người rơi xuống nước với được phao, phấn khởi đáp :

- Hay lắm ! Các khanh vào được chốn này chắc đều là bậc kỳ nhân, dị sĩ.

Trẫm xin phó thác sinh mạng cho hai khanh.

Chính Lan đứng lên, gọi Thi Mạn đến bên long sàng. Hai người thăm

mạch, hỏi han bệnh nhân đủ điều. Sùng Trinh nhìn rõ gương mặt kiều diễm

của Liễu Thi Mạn, thoáng giật mình. Ông không ngờ chốn giang hồ lại có một

mĩ nhân như vậy. Thi Mạn cau mày bảo :

- Tướng công ! Thiếp cho rằng Thánh Thượng có triệu chứng trúng độc.Nàng đến bên chiếc kỷ nhỏ cạnh giường, bưng chén thuốc chỉ còn ít cặn

lên ngửi và nếm thử. Thi Mạn nở nụ cười đắc ý :

- Tướng công ! Trong chén thuốc này chứa một chất độc có tên là Bế Tâm

Hoa Tinh. Đối phương đã cho Thánh Thượng uống mỗi ngày một lượng rất

nhỏ, gây triệu chứng suy tim. Đủ trăm ngày thì tâm mạch bế tắc.

Sùng Trinh giận dữ thều thào :

- Không ngờ Từ Thái Y cũng là tay chân của Nguỵ Trung Hiền.

Ông run rẩy hỏi lại :

- Thế hai khanh có giải được chất độc này không ?

Thi Mạn mỉm cười :

- Với linh đan của dân phụ và Thái Chân Khí Công của chuyết phu thì

chất độc kia cũng chẳng đáng gì.

Nàng lấy ra bảy viên thuốc màu xanh, trao cho bệnh nhân. Chính Lan

vội rót nước. Sùng Trinh nhăn mặt, cố nuốt những viên thuốc đắng như

hoàng liên kia. Thi Mạn bảo Chính Lan :

- Tướng công mau dùng chân khí trục hết chất độc ra.

Nàng bước đến khung cửa sổ phía sau vẫy Thiết Xuyên và Tố Bình. Hai

người kia mau mắn lao vào, cùng Thi Mạn trấn giữ cửa trước. Sùng Trinh

nhận ra Tố Bình xinh đẹp không thua gì Thi Mạn, hiếu kỳ hỏi Chính Lan :

- Họ là ai vậy ?

Chàng cười đáp :

- Nam là bằng hữu, nữ là tiện nội !

Sùng Trinh vui vẻ nói :

- Sao khanh không hề khai danh tánh và giới thiệu họ với trẫm cho dễ

xưng hô ?

Chính Lan đành nói tên cả bọn. Hai khắc sau, chất độc đã bị luồng chân

khí hùng mạnh của Chính Lan trục hết ra ngoài cơ thể. Y phục Sùng Trinh ướt

đẫm và vô cùng hôi hám. Nhưng ông nghe toàn thân thư thái, hơi thở điều

hoà, sức khoẻ sung mãn, liền hoan hỷ phán :

- Ơn cứu tử, trẫm chẳng dám quên. Khanh muốn được phong vương,

trẫm cũng sẵn sàng chuẩn tấu.

Chính Lan nghiêm giọng :

- Bọn thảo dân vì giang sơn và bách tính nên mới liều thân vào đây. Chỉ

mong Thánh Thượng sớm bình phục, chấn chỉnh triều cương, bảo vệ được

sơn hà và tạo phúc cho lê thứ. Thánh Thượng làm được như vậy là đã đến đáp

được chút công lao của bọn thảo dân rồi.Sùng Trinh cảm kích phán :

- Trẫm vô cùng mến mộ lòng trung quân ái quốc của chư khanh, nhưng

Nguỵ Trung Hiền nắm binh quyền trong tay, lại có rất nhiều cao thủ võ lâm

dưới trướng, trẫm muốn tiêu diệt lão cũng khó.

Chính Lan mỉm cười :

- Bọn thảo dân sẽ bắt Nguỵ Trung Hiền về cho Thánh Thượng xử tội. Xin

long nhan chuẩn bị lực lượng để trấn áp vây cánh của lão ta, nếu không sẽ

chẳng kịp trở tay.

Sùng Trinh vui mừng khôn xiết, mở ngăn tủ long sàng, lấy ra mảnh ngọc

bài, trao cho Chính Lan :

- Âu Dương hiền khanh hãy giữ kỹ Thiên Tử Ngọc Bài này để điều động

cấm quân của Ngũ Thành Binh Mã Ty, họ là lực lượng trung thành với quả

nhân.

Chính Lan miễn cưỡng nhận lấy và cáo từ. Bỗng Thi Mạn cười khúc

khích :

- Tướng công ! Thiếp nghĩ đến đoạn đường trở ra mà ngán ngẩm. Bơi qua

hào nước lẫn nữa chắc bọn thiếp chết cóng mất.

Sùng Trinh vội phán :

- Để trẫm bảo Trần công công đưa các khanh ra bằng cửa Thần Võ, hà tất

phải khổ cực như vậy ?

Chính Lan trầm giọng :

- Nếu Thánh Thượng tin rằng bọn cấm quân giữ được bí mật thì chẳng

sao.

Sùng Trinh cười mát :

- Họ đều là con cháu họ Chu, một lòng trung thành với trẫm.

Ông bước ra cửa, cao giọng gọi :

- Trần khanh !

Mười người lúc nãy chạy đến, thấy Thiên Tử đã hoàn toàn khang kiện,

họ sửng sốt không nói lên lời.

Sùng Trinh mỉm cười :

- Trẫm đã đỡ nhiều, các khanh đang cảm lạnh không nên vào phòng, chỉ

mình Trần khanh là đủ rồi. Lát nữa trẫm sẽ gọi sau.

Chín người kia đã hết hắt hơi sổ mũi nhưng chẳng dám kháng chỉ, quay

bước trở ra.Lát sau, Trần công công xuất hiện ở cửa Thần Võ phía bắc tử cấm thành.

Lão ta cao giọng :

- Thánh Thượng giáng chỉ. Truyền cho các ngươi phải nhắm mắt lại, khi

nào ta cho phép mới được mở ra.

Trần công công chăm sóc Sùng Trinh từ thuở lọt lòng nên trở thành

người thân tín nhất. Lời lão nói ra chính là kim ngôn của Thiên Tử. Vì vậy

hơn trăm tên cấm quân đều vội nhắm nghiền mắt lại, dù lòng vô cùng thắc

mắc.

Nửa khắc sau, Trần công công mới nói :

- Thôi đủ rồi ! Hãy mở mắt ra và quên chuyện này đi, nếu còn muốn

sống.

*

* *

Sáng hôm sau, bọn Chính Lan đi ngược trở lại hướng Nam, đem xe chở

thuốc giấu trong rừng, rồi ra quan đạo chờ đợi. Đến trưa thì đoàn nhân mã của

Phi Ưng Tiêu Cục đến nơi. Bảy người trở thành tiêu sư theo họ vào thành.

Cửa thành thường ngày chỉ có cấm quân, nhưng hôm nay lại thêm mấy chục

tên Cẩm Y Thị Vệ. Chúng giương đôi mắt cú vọ, quan sát từng lữ khách, thỉnh

thoảng chặn lại tra xét. Nhưng chúng quá quen với Phi Ưng Tiêu Cục nên

không hạch hỏi gì. Qua khỏi Thiên Đàn, bọn Chính Lan tách ra đi về mé tả.

Đây là khu vực sầm uất nhất Bắc Kinh, tập trung hầu hết những cơ sở kinh

doanh đồ sộ. Đường đi lót đá bằng phẳng, rộng đến ba mươi bước chân, ngang

dọc thẳng thớn như ô bàn cờ.

Dinh thự của Cửu Thiên Tuế nằm ở đây chứ không phải trong cung, dù

Nguỵ Trung Hiền là thái giám. Trong suốt sáu năm tại vị, Minh Quang Tôn đã

giao hết chính sự cho họ Nguỵ. Vì vậy uy quyền của lão ta chẳng thua gì Thiên

Tử. Nguỵ Trung Hiền công khai sử dụng long xa và nghi trượng của hoàng đế

mà chẳng ai dám nói gì trừ các bậc trung thần trong Đảng Đông Lâm.

Họ Nguỵ thích được nịnh hót. Một hôm có kẻ gọi lão là Nguỵ Thiên Tuế,

lão rất hoan hỷ, trọng thưởng cho người ấy. Hoàng đế là Vạn Tuế, còn Trung

Hiền là Cửu Thiên Tuế, quả là hợp tình hợp cảnh. Từ đó, lão bắt mọi người

phải xưng hô như thế.

Quang Tôn băng hà, Hy Tôn lên ngôi được một năm thì chết. Em Hy

Tôn là Tư Tôn kế vị tức là Sùng Trinh. Biết tân vương muốn diệt trừ mình,

Nguỵ Trung Hiền không dám ở lại trong cung, ra ngoài cung mua cơ ngơi thật

lộng lẫy và đồ sộ. Từ nơi này, lão điều khiển ba cơ quan mật vụ là ĐôngXưởng, Tây Xưởng và Nội Xưởng. Cao thủ của tam xưởng tuyển lựa từ hàng

ngũ Cẩm Y Thị Vệ và giới Hắc đạo võ lâm, bản lãnh rất cao cường.

Sùng Trinh yếu thế, nhất thời không làm gì được Nguỵ Trung Hiền, nếu

vọng động khó mà toàn mạng. Ngược lại họ Nguỵ là thái giám nên chẳng thể

nào cướp ngôi vua. Trong lịch sử Trung Hoa, bọn hoạn quan nhiều lần lũng

đoạn triều chính nhưng chưa có kẻ nào dám lên ngôi hoàng đế. Thứ nhất là sẽ

bị cả thiên hạ chống lại. Thứ hai, thái giám không thể có con thì truyền ngôi

cho ai ?

Nhắc lại, bọn Chính Lan được Hách Thiết Xuyên hướng dẫn vào khu vực

có phủ đệ của Nguỵ Trung Hiền để quan sát tình hình. Họ Hách ở Sơn Tây gẫn

với Bắc Kinh, thường lui tới nên khá thông thuộc đường lối. Nhưng Nguỵ phủ

nằm dựa góc phía Tây Nam của nội thành, chiếm một vùng rộng đến vài chục

mẫu, tường cao ba trượng, được canh gác nghiêm mật, thật khó mà vào được.

Vô Nhân Kiếm Khách thở dài nghĩ đến vấn đề khác :

- Phòng ốc, biệt viện hàng trăm gian thế kia, biết họ Nguỵ ở đâu mà tìm ?

Quả đúng vậy, có vào được cũng chỉ vô ích mà thôi. Bảy người vừa đi vừa

quan sát chẳng dám dừng lại vị sợ bị nghi ngờ. Cả bọn tìm khách điếm hạng

trung nghỉ ngơi, chờ đêm xuống.

Trong bữa cơm chiều Chính Lan nghiêm giọng :

- Nguỵ phủ phòng vệ sum nghiêm, nhân thủ đông đảo, chúng ta có vào

cũng chẳng ích gì. Đêm nay, chư vị ở ngoài, mình ta vào là đủ ! Nếu ta thất bại

mọi người hãy trở lại Nam Kinh dọn nhà đi nơi khác ẩn dật !

Thi Mạn biến sắc :

- Sao lúc trước tướng công đồng ý cho bọn thiếp cùng chung hoạn nạn ?

Chính Lan mỉm cười :

- Trước đây, ta định chặn đường tấn công Nguỵ Trung Hiền khi lão rời

phủ đệ vào triều dự chầu sáng. Nhưng nay Sùng Trinh hoàng đế cho biết họ

Nguỵ cáo ốm, đã lâu không vào cung nữa. Giết hổ tại hang chẳng dễ dàng gì.

Một mình ta còn có cơ hội thoát thân hơn.

Tố Bình nháy Thi Mạn rồi thản nhiên nói :

- Tướng công dạy rất phải, bọn thiếp xin tuân mệnh.

Thiết Xuyên trầm giọng :

- Giết Nguỵ Trung Hiền thì công tử khó mà thoát ra được. Chi bằng bắt

sống lão làm mộc che thân thì tốt hơn.

Chính Lan biết gã lo lắng cho mình. Chàng cảm động đáp :

- Hay lắm ! Tại hạ sẽ xách cổ Nguỵ Trung Hiền chạy thẳng vào Tử Cấm

Thành, giao cho Thiên Tử.Bàn bạc một hồi lâu, cả bọn mới về phòng nghỉ ngơi. Theo thói quen,

Chính Lan ngồi điều tức một lúc. Từ ngày rời miếu Thần Hổ đến nay, chàng

không có dịp toạ công. Nay đã đến lúc sinh tử, chàng phải kiểm tra kinh mạch

lần cuối để bước vào cuộc chiến. Dược lực của món Thất Xà Hà Thủ Ô hoàn

toàn dung hoá, chân khí vô cùng sung mãn, cuồn cuộn từ đan điền toả đi khắp

nơi.

Chính Lan thấy vậy, thử đưa nội lực đi theo đường lối khẩu quyết lớp

thứ tám của Thái Chân Tâm Pháp. Chàng kinh ngạc nhận ra mình hoàn thành

rất dễ dàng, liền luyện ngay sang lớp thứ chín. Hai khắc sau, quanh thân

Chính Lan toả ra màn sương mỏng màu xanh biếc, và từ mũi chàng, hai luồng

khí bắn ra dài hơn gang, rồi lại thu vào.

Thi Mạn, Tố Bình mừng rỡ ôm nhau nhưng chẳng dám gây tiếng động.

Lát sau, Chính Lan xả công, nghiêm giọng hỏi họ :

- Phải chăng hai nàng đã cho ta uống nhánh Thiên Niên Hà Thủ Ô ?

Thiên Tử khỏi bệnh, kỳ trân xem như bị Nguỵ Trung Hiền đoạt mất, hai

nàng chẳng cần phải dấu giếm nữa. Tố Bình mỉm cười đáp :

- Lúc ấy, tướng công thọ thương trầm trọng, bọn thiếp đành phải ngộ

biến tùng quyền. Hoàng đế có chết cũng mặc kệ lão, bọn thiếp chỉ mong sao

cứu được chàng thôi.

Chính Lan cảm động, bước đến ôm cả hai vào lòng và thắc mắc :

- Vậy ra nhánh kỳ trân bị cướp kia là giả hay sao ?

Thi Mạn cười rúc rích :

- Thưa phải ! Chỉ có hai miếng mỏng ở đầu là thực mà thôi.

Chính Lan nhớ lại lời Hách Thiết Xuyên, biết lão già sử dụng Song Hoàn

đã giả làm Trương Học Sĩ kia chính là một trong Phi Hoàn Tứ Lão ở Ngũ Đài

Sơn. Như vậy còn đến ba lão nữa và chàng khó mà địch nổi. Chàng từng nghe

nói về tuyệt kỹ Phi Hoàn của bốn anh em nhà họ Lý đất Sơn Tây. Những chiếc

vòng đen tuyền kia làm bằng Huyền Thiết rất cứng rắn, lại thêm hàng răng

cưa sắc bén có thể chặt gãy cả đao kiếm thông thường. Nối với vòng thép là

một sợi Thiết Luyện dài nửa trượng. Vì vậy, xa gần đều đánh được cả. Ai đã lọt

vào vòng vây của Phi Hoàn trận thì khó mà thoát thân.

Cảm giác tử vong đè nặng không làm cho Chính Lan sợ hãi. Mà chỉ khiến

chàng gần gũi với thê thiếp. Có thể đây là lần cuối cùng được kề cận họ. Chính

Lan dìu hai mĩ nhân đến giường, nhìn họ với ánh mắt đắm đuối và có đôi chút

xót xa. Thi Mạn và Tố Bình nào hiểu được ẩn tình, háo hức chìm vào hoan lạc.

*

* *Giữa canh ba, dưới ánh trăng cuối thu khi mờ khi tỏ, bảy bóng người tiến

về phía Nguỵ phủ. Tường cao nhưng không dày nên bọn quân canh chẳng thể

đi lại trên đầu tường, nhưng cứ cách năm trượng lại có một địch lâu và chắc

chắn bên trong tường có những toán tuần tra đi lại suốt đêm.

Bọn Chính Lan ẩn nấp sau bụi cây, cách chân tường mười trượng. Nghe

tiếng chó sủa, Thi Mạn thì thầm :

- Tướng công phải rắc lên người nhiều Vô Hương Phấn mới mong qua

mặt được bọn lang khuyển kia.

Nàng rút gói bột phấn rải lên đầu cổ, y phục của Chính Lan.

Nãy giờ mai phục, bọn Chính Lan đã phát hiện qui luật canh phòng của

bọn thị vệ địch lâu, cứ ba khắc đổi gác một lần.

Ánh trăng vừa khuất sau đám mây, trời đất vụt tối sầm, Chính Lan lao

như tên bắn về phía chân tường. Trong khoảng khắc này, nhãn tuyến của bọn

thị vệ mờ đi vì sự thay đổi ánh sáng đột ngột, chẳng thể nhận ra có người vượt

bãi đất trống. Gia dĩ, khinh công của Chính Lan nhanh như thiểm điện, lướt

đi tựa cánh dơi đêm, chỉ ba bước nhảy đã đến nơi.

Chàng lập tức dán mình vào mặt tường, bò lên địch lâu trên đầu. Sinh tử

huyền quang được đả thông, công phu Bích Hổ Công càng thêm lợi hại,

Chính Lan mau chóng vượt độ cao ba trượng, một tay bám mép gạch, một tay

xạ đạo huyết tuyến điểm hồng vào á huyệt gã thị vệ, rồi mới nhảy vào.

Chàng không giết mà điểm thêm một số huyệt đạo khiến thân thể gã

cứng đơ như tượng gỗ, vẫn đứng hiên ngang. Vừa lúc toán tuần tra phía dưới

đi ngang qua, thấy người trên đ�