Tôi
gần như bị ném ra căn phòng ngoài, rồi vào trong
cỗ xe. Một lần nữa tôi lại thấy cây cối và thửa
ruộng. Gã Ha-rôn ngồi trước mặt tôi. Sau một chuyến
đi bất tận, chúng tôi dừng lại:
- Ông hãy xuống đây, thưa ông Mê-lát. Tôi rất
tiếc phải bỏ ông xuống cách nhà ông quá xa, nhưng
tôi không được quyền chọn lựa.
”Anh ta mở cánh cửa xe và tôi có vừa đủ thì giờ
để nhảy xuống, bởi vì người đánh xe đã quất roi
vào con ngựa và cỗ xe phóng đi thật nhanh. Tôi
nhìn chung quanh, thấy mình đang ở trong một đồng
cỏ, rải rác có những bụi kim tước. Đằng xa có
một dãy nhà, rải rác đó đây những ánh sáng hắt
ra ngoài khuôn cửa sổ trên những tầng lầu. Nhìn
về phía bên kia, tôi thấy những tín hiệu đèn đỏ
của đường sắt.
”Cỗ xe đã vượt ngoài tầm mắt. Tôi đang phân vân
không biết mình đang ở đâu thì chợt thấy một người
tiến tới. Đó là một phu khuân vác ở nhà ga.
- Xin ông vui lòng cho tôi biết đây là đâu?
- Hạt Wandsworth.
- Làm sao đáp tàu đi Luân Đôn.
- Cách đây hai cây số. Nếu đi nhanh thì còn kịp
chuyến chót.
” Thưa ông Holmes, chuyến phiêu lưu của tôi kết
thúc như vậy đó“.
Chúng tôi ngồi yên lặng hồi lâu. Sau cùng Holmes
liếc sang Mycroft.
- Anh có thấy một hướng điều tra nào không? Mycroft
lấy tớ báo Daily News trên mặt bàn:
- ”Một phần thưởng được tặng cho người nào biết
chỗ ở của công dân Hy Lạp tên là Paul Kraides,
từ Athènes tới; và là người không biết nói tiếng
Anh. Một phần thưởng khác sẽ được đổi lấy bất
cứ tin tức nào liên quan đến một phụ nữ Hy Lạp
tên là Sophia. Trả lời về X2473. Tất cả các nhật
báo đều đăng lời nhắn tin này. Cho tới nay chưa
có hồi âm“.
- Thế còn đại diện của nước Hy Lạp?
- Tôi đã tới hỏi thăm. Người ta chẳng biết gì
hết.
- Một bức điện gửi cho cảnh sát ở Athènes, thế
nào?
- Sherlock có tất cả nghị lực của gia đình“ Mycroft
nói với tôi. ”Vậy thì, hãy nhận lấy trách nhiệm
và hãy báo cho anh biết tin, nếu chú thành công“.
- Em sẽ báo tin cho anh biết cũng như sẽ báo
cho ông Mê-lát rõ. Trong khi chờ đợi, thưa ông
Mê-lát, ông hãy đề phòng cẩn thận.
Trên đường, Holmes dừng lại bưu cục và đánh đi
nhiều bức điện tín.
- Anh Watson, chúng ta đã không lãng phí buổi
tối nay.
Vấn đề này có vài dữ kiện không kém tầm thường.
- Anh giải quyết được chứ?
- Khi đã biết được phân nửa mà không khám phá
ra nốt phần còn lại, thì còn bất hạnh nào hơn!
- Cô gái Hy Lạp đó đã bị chàng trai người Anh
tên là Ha-rôn bắt cóc - Tôi nói.
- Bắt cóc từ đâu?
- Từ Athènes.
Sherlock lắc đầu nói:
- Người thanh niên đó không nói được một tiếng
Hy Lạp, còn cô gái nói được tiếng Anh. Vậy là
cô ta đã sống trong một thời gian ở nước Anh,
nhưng còn hắn thì không sang Hy Lạp.
- Được. Thế thì chúng ta giả thiết rằng cô ấy
lưu lại nước Anh và gã lưu manh dụ dỗ được cô
ta. - Tôi nói.
- Rất có lý.
- Anh ruột cô ta tới nước Anh để can thiệp, nhưng
ông rơi vào tay bọn chúng. Chúng giam giữ ông,
dùng vũ lực buộc ông phải ký vào một văn kiện
chuyển tài sản của cô gái cho chúng, bởi vì ông
ta là người quản lý tài sản đó. Ông từ chối. Để
có thể đạt tới sự thoả hiệp, chúng cần có một
người thông ngôn và chúng đã chọn ông Mê-lát,
sau khi đã dùng một người khác từ trước đó. Cô
gái không biết là anh cô đã tới đây và cô chỉ
biết được sự kiện này nhờ sự tình cờ.
- ”Hoan hô, Watson“. Holmes kêu lên. Anh đã gần
đoán ra.“ Chúng ta nắm tất cả mọi quân bài, chỉ
còn lo ngại chúng dùng bạo lực“.
- Làm sao tìm ra sào huyệt chúng“.
- Nếu cô gái tên là Sophie Kratides, chúng ta
sẽ dễ dàng tìm ra cô. Bởi vì gã Ha-rôn đã làm
quen với cô ít ra đã được vài tuần. Nếu họ ở cùng
một nơi thì tin nhắn của Mycroft được hồi âm.
Chúng tôi về tới nhà Holmes lên cầu thang trước
và cửa mở, anh rất ngạc nhiên khi thấy Mycroft
đang ngồi trong ghế bành và bình thản hút thuốc.
- Vào đi, Sherlock. Hãy vào đi, ông Watson“.
Mycroft nói, khi thấy chúng tôi. ”chú không ngờ
là tôi chịu dấn thân vào vụ này, phải thế không
Holmes? Vụ này làm tôi thích thú“.
- Anh đến đây bằng gì?
- Xe ngựa.
- Có tin gì mới chăng?
- Anh đã nhận được hồi âm.
- A!“
- Phải, thư trả lời tới anh vài phút, sau khi
các chú ra về.
- Thư nói gì?
- Mycroft rút ra một tờ giấy.
- Nó đây này. Tôi xin đọc nhé. ”Thưa ông, để
trả lời cho tin nhắn của ông về ngày hôm nay,
tôi cho ông biết rằng tôi hiểu rất rõ về người
phụ nữ ấy. Nếu ông đến gặp tôi, tôi sẽ cho ông
biết vài chi tiết liên quan tới câu chuyện đau
buồn của cô ấy. Hiện nay cô đang ở tại biệt thự
Les Myrtes tại Beckenham. người bạn tận tâm của
ông J.Davenport“. Ông ấy viết từ Brixton. Này
Holmes, em có nghĩ rằng chúng ta nên đi tới không?
- Mạng sống của anh cô ta quan trọng hơn câu
chuyện đau buồn của cô ta. Chúng ta cần tới ngay
Scoland yard để tìm thanh tra Grếch-son và cùng
nhau đi tới Bekenham. Một cái chết đang được tính
từng giờ!
- Chúng ta tới rủ ông Mê-lát đi cùng. Biết đâu
chúng ta chẳng cần tới một người thông ngôn. -
Tôi gợi ý.
- ý kiến tuyệt vời!“ Holmes nói.“ Hãy sai người
đi tới một cỗ xe“.
Holmes mở ngăn kéo và nhét khẩu súng lục vào
túi.
- ”Phải“, anh nói để trả lời cho tia nhìn của
tôi. ”Chúng ta phải đối phó với một băng nhóm
đáng sợ“.
Màn đêm buông xuống khi chúng tôi tới Pall Mall.
chúng tôi gọi chuông căn hộ của ông Mê-lát.
- Bà vui lòng cho tôi biết ông Mê-lát có ở nhà
không? - Mycroft hỏi.
- Tôi không biết ông đi đâu“, người đàn bà mở
cửa cho chúng tôi trả lời.“ Tôi chỉ biết là ông
ấy đã ra đi cùng với một ông trong một cỗ xe“.
- Ông kia có xưng tên không?
- Không, thưa ông.
- Có phải người đó là một thanh niên tóc nâu,
vạm vỡ?
- Đó là một người nhỏ con, mang mắt kiếng, gày
gò nhưng rất ngộ nghĩnh: ông ta cứ cười luôn trong
khi nói.
- ”Đi thôi!“ Holmes kêu lên với chúng tôi. ”Chuyện
nghiêm trọng lắm rồi“!
Trong lúc chúng tôi cho xe chạy tới trụ sở của
Scotland yard, anh nói với chúng tôi:
- Bọn cướp đã bắt cóc Mê-lát, rất có thể là chúng
còn cần tới ông. Nhưng sau khi dùng ông xong rồi,
chúng sẽ trừng phạt ông.
Tới Scoland yard, phải mất một giờ, chúng tôi
mới tiếp xúc được với thanh tra Grếch sơn, rồi
sau đó vội vã tới ngay biệt thự Les Myrtes: ngôi
nhà lớn tối tăm, nằm trên một thửa đất cách xa
đường. Sau khi cho xe ngựa về, chúng tôi đi trên
lối vào nhà.
- Các cửa sổ đều không có ánh đèn vào cái tổ
đã trống trơn. - Holmes nói.
- Tại sao anh lại nói vậy?
- Cách đây gần một tiếng đồng hồ, một cỗ xe chở
đầy hành lý đã đi ngang qua đây: nó từ trong nhà
chạy ra.
Viên thanh tra cất tiếng cười vang:
- Ngọn đèn ở hàng rào đã chỉ cho tôi thấy những
vết bánh xe, nhưng còn hành lý thì...
- Ông hãy quan sát những vết của cùng những bánh
xe đó, trong chiều ngược lại: những vết đi ra
cánh đồng thì hằn rõ hơn trong nền đất. Vậy là
xe phải chịu đựng một trọng tải nặng hơn rất nhiều.
- ”Thế là ông đã đi xa hơn tôi“, viên thanh tra
nhún vai mà trả lời. ”Cánh cửa này chẳng dễ gì
mở được. Nhưng trước hết, chúng ta hãy thử gọi
cửa xem sao?
Ông dùng búa gõ rất dữ dội, giật mạnh dây chuông,
nhưng không có kết quả. Holmes lỉnh đi. Vài phút
sau, anh trở lại, nói:
- Một cửa sổ đã mở.
- ”Thật may mà anh lại đứng về phía cảnh sát
...“ viên thanh tra quan sát và khâm phục cái
cách mà Holmes nạy then móc cửa sổ ra. Chúng ta
có thể vào nhà mà không cần được mời“.
Chúng tôi lần lượt vào trong một gian phòng lớn,
hiển nhiên là nơi ông Mê-lát đã được đưa vào.
Viên thanh tra thắp đèn. Trên bàn có hai cái ly,
một chai rượu cô nhắc đã cạn và vài món ăn dư.
- Cái gì vậy nhỉ? - Đột nhiên Holmes hỏi.
Chúng tôi giỏng tai lên nghe ngóng, đứng bất
động. Từ một nơi nào đó trên lầu vọng xuống một
tiếng rên rỉ nhỏ, nghẹn. Holmes vội leo lên, viên
thanh tra và tôi bám theo bén gót, anh Mycroft
cũng đuổi theo chúng tôi.
Lên tới thềm cầu thang lầu hai, chúng tôi thấy
có ba cánh cửa: tiếng kêu xé ruột phát ra từ phía
sau cánh cửa giữa. Cánh cửa bị đóng, nhưng chìa
khoá lại cắm ở bên ngoài. Holmes mở cửa, lao vào,
nhưng rồi anh quay ra ngay sau đó và giơ tay chặn
lấy cuống họng.
- ”Khói quá!“ Anh kêu lên. ”Chúng ta chờ một
chút“.
Liếc vào bên trong, chúng tôi thấy ở giữa phòng
có một ngọn lửa xanh, bốc lên từ một cái giá ba
chân đồng. Ngọn lửa vẽ trên sàn nhà một vòng tròn
nhỏ, nhợt nhạt; chúng tôi nhận ra hai bóng người
co quắp dựa vào tường. Holmes leo lên bậc thang
trên cao để hít thở không khí ít khói, đoạn trở
vào phòng, mở một cửa sổ ra và liệng cái giá ba
chân nóng rực xuống dưới vườn.
- Trong một phút nữa, chúng ta có thể vào được“,
anh hổn hển nói khi trở ra ngoài. ”Làm sao có
ngọn nến nhỉ“ Không khí như vầy không thể đánh
diêm quẹt được. Mycroft, anh hãy cầm lấy cây đèn
lồng đứng ngay cửa, rọi sáng để chúng tôi khiêng
họ ra ngoài. Nào! Chúng ta xông vào!“
Chúng tôi nín thở, túm lấy những kẻ bất bạnh,
lôi họ ra ngoài cầu thang. Cả hai đều bất tỉnh.
Một trong hai người là viên thông ngôn Hy Lạp.
Ông bị trói ở chân và ở tay, một con mắt sưng
vù. Người kia cũng bị trói tương tự, cao và gầy
trơ xương, mặt ông ta trông kỳ quái với những
dải vải mỏng có phết hồ dán. Khi chúng tôi đặt
ông ta xuống đất thì ông ta ngừng rên rỉ: ông
đã chết, Mê-lát thì còn sống.
Câu chuyện của Mê-lát rất đơn giản: người khách
đến kêu cửa, khi nhìn thấy cây dùi cui, ông đã
khiếp sợ, đành để cho bị bắt cóc một lần thứ hai,
bị đem về Beckenham và phải làm thông ngôn cho
một cuộc đối thoại còn bi thảm hơn cuộc nói chuyện
lần đầu: Sau chót, thấy rõ là không thể nào lay
chuyển được còn mồi, chúng đưa ông về chỗ giam
cũ. Sau khi nói với ông Mê-lat rằng chúng đã đọc
được tin nhắn trên các báo; chúng nện một cú dùi
cui, và ông bị ngất đi... cho tới lúc chúng tôi
đến cứu ông.
Chúng tôi khám phá ra được vụ này nhờ người viết
thư ở Lower Birixton. Người này cho biết rằng
thiếu phụ bất hạnh thuộc một gia đình Hy Lạp giàu
có và cô sang nước Anh ở chơi nơi nhà bạn bè.
Cô gặp Ha-rôn, gã này thuyết phục cô bỏ trốn theo
y. Các bạn cô ngao ngán báo tin cho anh cô ở Athènes
rồi sau đó họ không còn bậm tâm gì nữa. Nhưng
khi vừa tới nước Anh, anh của cô rơi vào tay Ha-rôn
và Uyn-xông. Hai tên lưu manh đó giam giữ ông
và ra sức ép buộc ông ký tên vào một văn kiện
chịu từ bỏ tài sản của hai anh em ông. Chúng đã
giam giữ ông và nguỵ trang ông bằng những dải
vải mỏng có phết hồ dán, ngỡ tưởng cô em gái không
nhận ra người anh, trong trường hợp cô nhìn thấy
ông. Tuy nhiên, cái trực giác của người đàn bà
giúp cô nhận ra anh mình. Thế là đến phiên cô
bị cầm giữ trong nhà người đánh xe ngựa và cô
vợ y. Khi hai tên bất lương biết rằng bí mật của
chúng bị phát giác và người bị chúng giam khăng
khăng không chịu ký tên, thì chúng bỏ trốn cùng
với cô gái. Nhưng trước khi bỏ đi, chúng ra tay
trả thù con người đã cả gan thách thức chúng.
Vài tháng sau, một bản tin kỳ lạ đánh đi từ Budapest
được đăng trên các báo. Tin cho hay hai người
anh du hành cùng một thiếu phụ đã có một kết cuộc
bi thảm . Cả hai người đàn ông đều bị đâm chết.
Cảnh sát Hung-ga-ri cho rằng hai người đó đã gây
lộn với nhau và đã giết nhau... Holmes thì cho
rằng những nối thống khổ của hai anh em người
Hy Lạp đã được trả thù.