|
Toà nhà được xây bằng đá xám; phần giữa cao,
còn hai chái xây cong. Mấy khung cửa sổ ở một bên
chái đã vỡ, nên phải bít lại bằng những thành gỗ.
Ngói trên mát sút lở nhiều chỗ. Một cảnh tường đổ
nát phơi bày trước mắt chúng tôi. Phần giữa nhà
khá hơn ít nhiều ; nhưng hiện đại hơn cả vẫn là
khối bên phải. Những tấm rèm trên mấy khung cửa sổ
và làn khói bay lên từ mấy cái lò sưởi cho thấy cả
gia đình hiện sống tại phần này. Holmes đi đi lại
trên bãi cỏ, chăm chú ngắm nhìn phía ngoài mấy
khung cửa sổ.
- Tôi đoán cửa sổ này là cửa phòng ngủ trước đây
cô sử dụng; cái chính giữa là phòng của chị cô,
còn cái kế cận với toà nhà chính là phòng của bác
sĩ Roylott, đúng không, thưa cô?
- Vâng, đúng rồi. Nhưng tôi hiện phải ngủ tại căn
giữa.
- Chỉ tạm thời trong lúc sửa chữa thôi, nếu tôi
không lầm. à luôn tiện cũng xin hỏi: hình như
chẳng việc gì phải sửa chữa gấp như vậy thì phải.
Vì tôi thấy bức tường ở đầu nhà còn chắc lắm mà.
- Đúng vậy. Tôi tin chắc đó chỉ là cái cớ để bắt
tôi phải chuyển phòng thôi.
- à! Có thể đúng thế thật. Nay, mặt trong cái chái
hẹp này có một dãy hành lang mà cả ba phòng ngủ
đều ăn thông ra, phải không? Bên phía đó chắc cũng
phải có cửa sổ chứ?
Vâng, nhưng nhỏ lắm. Nhỏ đến nỗi không một ai có
thể chui qua được.
- Vậy là từ mặt đó, không một ai có thể lọt vào
phòng hai chị em cô, nếu đêm nào các cô cũng khoá
chặt cửa. Bây giờ, cô làm ơn vào phòng cô và đóng
chặt mấy cánh cửa chắn lại nhé.
Cô Stoner làm theo lời Holmes, và anh cố tìm mọi
cách thử mở cánh cửa chắn, nhưng vô hiệu.
Hừm! - anh nói - Giả thuyết đầu của tôi như vậy là
đã bị loại bỏ. Không một ai có thể chiu qua ngả
này, nếu cửa chắn đã bị cài chặt. Được rồi, bây
giờ thì ta thử vào phía trong, xem có phát hiện
được gì mới không.
Một cánh cửa nhỏ bên hông dẫn vào hành lang mà cửa
của ba phòng ngủ đều ăn thông ra. chúng tôi vào
căn phòng thứ nhì, hiện là phòng ngủ của cô Stoner
và cũng là nơi chị cô đã gặp tai hoạ. Đó là một
căn phòng nhỏ, đủ tiện nghi, trần thấp và có một
lò sưởi lớn. Một cái tủ gỗ nâu đựng quần áo, có
ngăn kéo, kê ở một góc phòng; còn góc kia là một
cái gường trắng hẹp và một cái bàn con đặt bên
trái cửa sổ. Hết thảy những thứ vừa kể cùng hai
chiếc ghế dựa là toàn bộ đồ đạc trong phòng, nếu
không kể tới tấm thảm trải giữa sàn. Holmes đặt
vào góc phòng một chiếc ghế, ngồi xuống im lặng
nhìn quanh toàn bộ căn phòng, không bỏ sót một chi
tiết nào.
Sợi dây kéo chuông này ăn thông vào đâu?- mãi sau,
anh mới lên tiếng, tay chỉ vào một sợi dây giật
chuông cỡ lớn buông thõng xuống sát đầu giường.
- Nối với phòng người quản gia.
- Trông có vẻ mới hơn mọi thứ vật dụng trong phòng.
- Vâng. Vì mới được lắp cách đây vài năm.
- Chắc chị cô đòi mắc?
- Không tôi chẳng bao giờ thấy chị tôi giật chuông
cả. chúng tôi toàn tự tay làm lấy mọi việc, vì nhà
không nuôi người hầu.
- Xin lỗi cô mấy phút nhé, tôi muốn xem kỹ thêm
sàn căn phòng một chút.
Anh bò tới bò lui, xem xét cẩn thận từng đường
rãnh những tấm ván lát sàn. Cuối cùng, anh đến
cạnh giừơng ngủ, nhìn chằm hằm một lúc, rồi lại
đưa mắt nhìn bức tường từ trên xuống dưới rồi từ
dưới lên trên. Đoạn, anh cầm lấy dây chuông giật
mạnh một cái.
- Sao không nghe chuông reo gì cả? Thậm chí nó
cũng chẳng được nối vào sợi dây thép kéo chuông.
Lạ thật! Cô nhìn kìa, sợi dây thậm chí chỉ buộc
vào một cái móc sắt nằm ngay phía trên cửa thông
gió.
- Thật vô lý quá! Vậy mà lâu nay tôi chẳng để ý.
- Rất kỳ lạ! Holmes vừa lẩm bẩm, vừa giật sợi dây.
Căn phòng này có một vài điểm rất kỳ quặc. Chẳng
hạn, gã thợ xây hẳn phải điên rồi lắm mới trổ cửa
thông hơi sang phòng bên cạnh; lẽ ra hắn có thể
trổ ra ngoài; cũng chỉ mất chừng ấy công thôi.
- Cái này cũng mới làm gần đây - cô tiểu thư nói
- Chắc làm cùng lúc với sợi dây kéo chuông -
Holmes nhận xét.
- Vâng dạo đó có một số thay đổi nhỏ trong nhà.
- Cô Stoner, cô vui lòng cho chúng tôi sang phòng
ông bác sĩ xem qua một chút.
Phòng bác sĩ Roylott rộng hơn phòng hai cô con
riêng của bà vợ trước, nhưng đồ đạc bài trí rất
đơn sơ. Chỉ có một cái giừơng, một giá sách nhỏ
bằng gỗ, một cái ghế bành kê cạnh giường, một giá
sách nhỏ bằng gỗ, một cái ghế bành kê cạnh giường,
một cái ghế xếp đặt sát tường, một cái bàn tròn và
một tủ sắt lớn. Holmes thong thả đi quanh phòng,
xem hết sức kỹ lưỡng từng món đồ đá.
- Tủ này đựng gì? Holmes vừa hỏi gõ vào chiếc tủ
sắt.
- Giấy tờ làm ăn của bố dượng tôi.
- ồ, thế ra cô đã có dịp nhìn vào bên trong?
- Chỉ một lần duy nhất, cách đây vài năm. Tôi nhớ
là trong tủ đầy ắp giấy tờ.
- Ông ta có nuôi gì trong đó không? Như mèo chẳng
hạn.
- Không, ông hỏi gì lạ thế!
- Thề thì cô nhìn đây! - Anh cầm lên một cái đĩa
lót tách nhỏ, đựng sữa, đặt trên nóc tủ.
- Không, chúng tôi không nuôi mèo. Nhưng có một
con báo bờm và một con khỉ đầu chó.
à, vâng. Dĩ nhiên! Báo bờm chẳng qua chỉ là một
con mèo lớn xác thôi. Nhưng tôi nghĩ rằng đĩa sữa
nhỏ này e khó lòng chu cấp đủ cho con vật đó. Còn
một điểm nữa tôi muốn làm sáng tỏ - Anh lấy kính
lúp ra soi lên mặt chiếc ghế gỗ, xem xét mặt ghế
hết sức kỹ lưỡng.
- Cảm ơn cô. Thế là rõ rồi, anh vừa nói vừa đứng
dậy, cất chiếc kính lúp vào túi. Chà! Món này lý
thú đây!
Vật khiến anh chú ý là chiếc roi nhỏ, treo trên
góc giường. Tuy nhiên, chiếc roi ấy bị uốn cong ở
đầu mút, rồi thắt lại thành một vòng tròn.
- Watson, anh nghĩ gì về món này?
- Đó chí là một cái roi cũng bình thường thôi. Có
điều tôi không hiểu tại sao lại thắt vòng ở đầu
mút.
- Chẳng bình thường lắm đâu, anh không thấy sao?
Tôi nghĩ tôi xem xét xong rồi đấy, cô Stoner ạ.
Điều hết sức hệ trọng là từ bây giờ, cô nhất nhất
phải làm đúng những điều tôi khuyên. Vụ này nghiêm
trọng lắm, ta không được chần chừ một phút nào nữa.
Tính mạng của cô tuỳ thuộc cô đấy.
- Tôi xin phó thác hết cho ông.
- Trước hết, đêm nay cả hai chúng tôi phải ở lại
trong phòng cô.Cả tôi lẫn cô Stoner đều kinh ngạc
trố mắt nhìn anh.
- Vâng, phải như thế mới được. Để tôi cắt nghĩa.
Chắc ở đằng kia là cái quán trọ của vùng này?
- Vâng, đó là quán trọ Crown Inn.
- Rất tốt. Từ đó nhìn sang có thể thấy được cửa sổ
căn phòng cô không?
- Thấy được chứ.
- Khi nào bố dượng cô về, cô không được ra khỏi
phòng, lấy cớ là cô bị nhức đầu. Bao giờ nghe thấy
lão sửa soạn đi ngủ, thì cô hãy mở ngay cửa sổ,
đặt lên bậu một ngọn đèn để báo hiệu cho chúng tôi
. Xong xuôi, cô mang hết những gì mình cần sang
bên phòng cũ của cô. Tôi tin chắc rằng, tuy đang
sửa chữa, cô vẫn có thể nghỉ tạm một đêm bên đó.
- Vâng, chuyện đó chẳng có gì khó.
- Phần còn lại cô cứ để mặc chúng tôi lo liệu.
- Nhưng các ông sẽ làm gì
- chúng tôi sẽ ngồi bên căn phòng mới của cô để
tìm cho ra nguyên nhân của những tiếng động đã
quấy rầy cô.
- Ông Holmes, tôi tin rằng ông đã đi đến được một
kết luận - cô Stoner vừa nói vừa đặt tay lên ống
tay áo của bạn tôi.
- Có lẽ cô đúng.
- Vậy xin ông cho tôi biết tại sao chị tôi chết.
- Trước lúc cho cô biết, tôi muốn có những bằng
chứng hiển nhiên hơn.
- ít nhất ông cũng có thể cho tôi biết là tôi đoán
định như vậy có đúng không: chị tôi chết vì nỗi
hoảng sợ quá đột ngột?
- ồ không, tôi không cho là vậy. Tôi nghĩ là có
một nguyên nhân cụ thể hơn nhiều . Còn bây giờ,
chúng ta phải tạm biệt nhau, vì nếu bác sĩ Roylott
quay về mà bắt gặp chúng tôi ở đây, thì chuyển đi
này coi như uổng công. Tạm biệt cô, cô hãy can đảm
lên nhé! Nếu cô làm đúng những gì tôi dặn, cô có
thể tin rằng chúng tôi sẽ sớm loại bỏ những hiểm
hoạ đang rình rạp cô.
Sherlok Holmes và tôi thuê một phòng ngủ và một
phòng khách tại quán trọ Crown Inn. Cả hai đều nằm
ở tầng trên cùng, nên chúng tôi có thể nhìn rõ dãy
nhà đang được sử dụng trong trang trại Stoke
Moran. Vào lúc nhá nhem tối, chúng tôi thấy chiếc
xe ngựa chở bác sĩ Grimesby Roylott chạy ngang qua
cửa sổ phòng trọ. Vóc người lão trông càng cao lớn
bên cạnh cậu xà ích bé nhỏ. Đến cổng, cậu đánh xe
loay hoay một lúc mới mở được hai cánh cổng sắt
nạng, và chúng tôi nghe được cái giọng khàn của
bác sĩ Roylott gầm lên, trong khi lão giận dữ khua
hai nắm đấm trước mũi cậu xà ích. Cỗ xe chạy qua
cổng và chỉ một lát sau, chúng tôi đã thấy giữa
lùm cây loé lên một ánh đèn mới thắp trong một
phòng khách tại nhà lão.
- Watson ạ, quả tình tôi chưa dám chắc đêm nay có
nên đưa anh đi cùng hay không - Holmes nói khi
chúng tôi đang ngồi bên nhau trong bóng tối - Tình
hình chắc sẽ nguy hiểm lắm!
- Tôi có thể giúp ích cho anh chút nào không?
- Có anh đi cùng là rất quí.
- Vậy thì tôi nhất định sẽ đi cùng anh.
- Cám ơn, anh tốt quá.
- Anh có nói đến nguy hiểm. Chắc chắn là anh đã
phát hiện được nhiều điều trong những căn phòng đó
hơn tôi.
- Không, tôi nghĩ rằng tôi chỉ rút ra được nhiều
kết luận hơn anh thôi. Tôi cho rằng anh cũng đã
trông thấy những gì tôi trông thấy.
- Tôi chẳng phát hiện được gì đáng chú ý, ngoại
trừ sợi dây giật chuông. Tôi không hình dung nổi
sợi dây đó được dùng làm gì.
- Anh cũng nhìn thấy cả cái lỗ thông gió chứ?
- Có. Nhưng tôi nghĩ rằng chẳng có gì kỳ lạ là có
một lối hở nhỏ giữa hai phòng. Nó nhỏ tới mức một
con chuột nhắt cũng khó chui quá.
- Tôi biết trước thế nào chúng ta cũng phát hiện
được cái lỗ thông gió đó ngay từ khi chưa đến
Stoke Moran.
- Thế thì hơi quá đây, anh Holmes thân mến ạ.
- ồ, đúng thế. Anh không nhớ là cô Stoner cho biết
chị cô ấy có lần ngửi thấy mùi khói xì gà của lão
bác sĩ Roylott hay sao? Điều đó cho thấy ngay rằng
giữa hai căn phòng tất phải có một lối thông sang
nhau. Có điều cái lối thông đó phải rất nhỏ, nếu
không thì viên dự thẩm đã nhận thấy. Tôi rút ra
kết luận: đó chỉ là một cái lỗ thông gió.
- Nhưng cãi lỗ đó thì phỏng có hại gì?
- ồ, ít ra cũng có sự trùngkhớp đáng lưu ý giữa
các sự việc: người ta trổ một cái lỗ cửa thông gió
ngay phía trên đầu giường, người ta treo một sợi
dây giật chuông lên, thế là cô gái ngủ trên cái
giường kia chết. Anh không thấy sự trùng khớp đó
là kỳ lạ?
- Tôi vẫn chưa thấy những cái đó có gì dính dáng
với nhau.
- Thế anh không thấy có gì kỳ lạ nơi chiếc giường
ngủ kia sao?
- Không.
- Chân giường được gắn chặt vào sàn nhà. Đã bao
giờ anh thấy một kiểu kê giường như thế chưa?
- Có lẽ chưa bao giờ.
- Cô gái không thể di chuyển được cái giường. Nó
luôn được đặt cố định bên dưới lỗ thông gió và sợi
dây thừng. Chúng ta có thể gọi đó chỉ là sợi thừng
, vì người ta treo nó lên không phải để giật
chuông.
- Anh Holmes- tôi reo lên - Bây giờ như tôi đã
hiểu được lờ mờ những gì anh muốn nói. Vậy là
chúng ta đã có mặt vừa kịp thời để chặn đứng một
tội ác khủng khiếp.
- Phải, cũng khá khủng khiếp . Nhưng chúng ta sẽ
còn phải nếm đủ mùi khủng khiếp chừng nào đêm nay
còn chưa trôi qua. Cho nên, ta hãy bình tâm thưởng
thức những tẩu thuốc này và nghĩ tới một cái gì đó
vui hơn trong vài tiếng đồng hồ,
Khoảng chín giờ tối, ánh đèn giữa các lùm cây vụt
tắt, cả trang trại bỗng chìm vào bóng tối. Hai
tiếng đồng hồ nữa chậm chạp trôi qua, rồi thình
lình một ánh đèn đơn độc đã loé sáng phía trước.
- Đó là ám hiệu của chúng ta -Holmes nói, rồi đứng
bật dậy - ánh đèn phát ra từ cánh cửa sổ ở giữa.
Lát sau, chúng tôi đã xuống đường. Trời tối, gió
lạnh quạt vào mặt. ánh đèn vàng ệch đằng trước soi
đường cho chúng tôi trong đêm tối. Chúng tôi lách
qua giữa những gốc cây, đến chỗ bãi cỏ, rồi băng
qua nó. Khi chúng tôi sắp trèo qua cửa sổ, thì từ
trong những bụi rậm gần đó bỗng lao tới một quái
vật tựa như một đứa bé dị dạng. Nó gieo mình xuống
đất, trụ lại trên bốn cẳng chân co quắp, rồi lao
qua bãi cỏ, mất hút vàp bóng đêm.
- Trời ơi! - tôi rỉ tai Holmes - Anh có trông thấy
gì không?
Trong khoảng một phút đồng hồ Holmes cũng hoảng sợ
như tôi. Rồi anh cười khẽ và thì thầm vào tai tôi:
- Một cơ ngơi thật khả ái. Con khỉ đầu chó đó.
Tôi đã quên khuấy mất lũ ”gia súc“ kỳ quặc của lão
bác sĩ hiểm độc. Thú thực, tôi cảm thấy nhẹ cả
người, khi noi gương Holmes, cởi giày và trèo qua
cửa sổ vào phòng. Bạn tôi khẽ đóng cánh cửa chắn
lại, đặt ngọn đèn lên bàn, rồi đảo mắt nhìn quanh
phòng. Mọi thứ vẫn y nguyên như hồi chiều. Rồi anh
rón rén tiến lại gần tôi, rỉ tai tôi, giọng khẽ
đến mức khó lòng nghe rõ được từng lời:
- Chỉ một tiếng động nhỏ nhất cũng có thể khiến
những dự tính của chúng ta tiêu ma.
Tôi gật đầu để cho Holmes biết là tôi đã nghe
thấy.
- Chúng ta phải tắt đèn ngay. Lão có thể phát hiện
được ánh sáng qua lỗ cửa thông gió trên kia.
Tôi lại gật.
- Nhớ đừng ngủ gật nhé. Mạng sống của anh đang tuỳ
thuộc vào đó. Chuẩn bị khẩu súng để khi cần, ta có
thể ra tay. Tôi sẽ ngồi ở mép giừơng; còn anh, hãy
ngồi tạm xuống chiếc ghế kia.
Tôi lấy khẩu súng ngắn ra, đặt lên góc bàn.
Holmes có mang theo một cây gậy dài, mảnh. Anh đặt
nó lên mặt giừơng, sát bên tầm tay. Cạnh đó, anh
đặt một bao diêm và một cây nến; xong xuôi, anh
tắt đèn, và chúng tôi ngồi im trong bóng tối.
Chắc chẳng bao giờ tôi quên được cái đêm mất ngủ
khủng khiếp đó! Tôi không thể nghe được một âm
thanh nào, thậm chí cả tiếng thở. Tôi biết bạn tôi
đang ngồi cách mình mấy bước, mắt mở trừng trừng
và cũng đang trong trại thái thần kinh cẳng thẳng
như tôi. Cánh cửa chắn ngăn hết mọi thứ ánh sáng,
chúng tôi ngồi trong bóng tôi dày đặc. Bên ngoài
chốc chốc lại vọng vào tiếng chim ăn đêm; và có
một lần vang lên một tiếng hú dài tựa tiếng mèo
kêu: hẳn là con báo bờm đã được thả. Từ xa vẳng
lại tiếng chuông nhà thờ điểm giờ: cứ mười lăm
phút lại buông một tiếng trầm trầm. Ôi, những
khoảng thời gian mười lăm phút đó sao mà dài thế!
Đồng hồ điểm mười hai giờ, một giờ, hai giờ, rồi
ba giờ.. ., và chúng tôi vẫn im lặng ngồi đợi xem
điều gì sẽ xảy ra.
Bỗng một ánh lửa loé lên từ bên kia lỗ cửa thông
gió, rồi vụt biến mất ngay. Sau đó mùi dầu cháy và
mùi sắt nung khé tlẹt bay sang. Ai đó ở phòng bên
đã châm đèn. Tôi nghe một tiếng di động rất khẽ,
rồi tất cả lại chìm vào im lặng, tuy mùi khét mỗi
lúc một nồng nặc. Suốt nửa giờ tôi căng tai nghe
ngóng. Rồi thình lình tôi nghe một tiếng động
khác, rất khẽ, tựa như tiếng luồng hơi nước thoát
ra từ một ấm đun nước. Đúng vào lúc tôi nghe thấy
âm thanh đó, thì Holmes đứng bật dậy, đánh diêm và
giận dữ vụt cây gậy tới tấp vào sợi dây giật
chuông.
- Anh có thấy nó không, Watson? - anh rít lên -
Anh có thấy nó không?
Nhưng tôi chẳng thấy gì cả. Vào lúc Holmes đánh
diêm, tôi nghe thấy có tiếng huýt sáo khẽ, nhưng
rõ.Tuy vậy, ánh lửa ở đầu que diêm đột ngột loé
sáng đập vào cặp mắt mệt mỏi của tôi, khiến tôi
không thể nói đích xác bạn tôi đang đạp tới tấp
vào cái gì. Tuy vậy, tôi có thể thấy rõ mặt anh
tái nhợt như một xác chết và đầy kinh hãi. Anh
ngừng tay, ngước nhìn chằm chằm vào lỗ cửa thông
gió, rồi giữa cảnh im ắng của đêm khuya bỗng vang
lên một tiếng rú kinh hoàng mà tôi chưa từng nghe
thấy bao giờ. Tiếng rú mỗi lúc một to hơn, một
tiếng rú khàn khàn, chứa đầy đau đớn, sợ hãi và
phẫn nộ. Tôi đứng nhìn trừng trừng vào Holmes, còn
anh thì nhìn tôi, cho tới lúc những tiếng vọng
cuối cùng của tiếng rú kia chìm vào cảnh im ắng
của đêm khuya như ban nãy.
- Thế nghĩa là thế nào? - tôi thở dốc.
- Thế nghĩa là mọi chuyện đã kết thúc, - Holmes
đáp - và xét cho cùng, kết thúc như thế là hay hơn
cả. Anh cầm súng lên, chúng ta sẽ vào phòng bác sĩ
Roylott.
Vẻ mặt trang nghiêm, anh châm đèn lên và bước ra
hành lang. Tôi đi ngang anh sáng phòng bên. Anh gõ
cửa hai lần, nhưng bên trong không có tiếng đáp.
Anh vặn quả đấm, rồi đi vào phòng. Tôi vào theo,
súng lăm lăm trong tay.
Một cảnh tường kỳ lạ đập vào mắt chúng tôi. Trên
bàn đặt một ngọn đèn, hắt ánh sáng chói gắt lên
chiếc tủ sát với cánh cửa đang hé mở. Ngồi trên
chiếc ghế gỗ kê cạnh đó là bác sĩ Grimesby Roylott
mình choàng chiếc áo chùng màu xám; và vắt ngang
trên đùi lão là chiếc roi mà chúng tôi đã để ý tới
hồi chiều. Cằm lão ta hếch lên, còn đôi mắt thì
nhìn trừng trừng vào một góc trần nhà: một cái
nhìn bất động trông rất khủng khiếp. Quanh đầu lão
quấn một dải băng màu vàng kỳ dị, điểm những đốm
màu nâu sẫm. Khi chúng tôi bước vào, lão vẫn ngồi
im lặng và bất động.
Dải băng! Dải băng lốm đốm! Holmes khẽ thốt lên.
Tôi bước tới một bước. Ngay trong khoảnh khắc đó,
dải băng bắt đầu chuyển động. Từ đám tóc của bác
sĩ Roylott ngóc lên một cái đầu có cạnh và cái cổ
ngẳng của một con rắn gớm ghiếc.
- Đó là giống rắn độc đầm lầy! - Holmes kêu lên -
Độc hơn bất cứ giống nào ở ấn Độ. Lão ta chết mười
giây sau khi bị rắn cắn. Anh hãy nhốt ngay con rắc
độc kia vào tủ sắt đã, rồi đưa cô Stoner đến một
nơi an toàn; xong đi báo cảnh sát địa phương.
Anh vừa nói, vừa rút vội cây roi trên đùi viên bác
sĩ. Anh tròng đầu roi vào cổ rắn, thắt lại, rồi
nhốt rắn vào tủ, đóng lại.
Đó là sự kiện đích thực về cái chết của bác sĩ
Grimesby Roylott ở Stoke Moran. Trên đường về vào
sáng hôm sau, Holmes nói thêm cho tôi rõ những
việc còn lại mà tôi chưa biết về vụ này.
- Ban đầu, tôi đã kết luận hoàn toàn sai - anh
nói. Điều đó cho thấy, Watson thân mến, sẽ nguy
hiểm biết chừng nào khi lý giải mà chưa có đủ
thông tin. Không còn nghi ngờ gì nữa, chính việc
cô gái tội nghiệp nọ đã dùng dải băng đễ diễn tả
những gì cô trông thấy nhờ ánh sáng của que diêm
và cả sự có mặt của đám Di gan trong trang trại -
hai thứ đó đã gợi ra trong đầu tôi một ý nghĩ hoàn
toàn sai lầm. Nhưng tôi đã gạt bỏ ngay giả thuyết
đó khi hiểu rõ rằng không thể có một hiểm hoạ nào
đe doạ cô ấy từ phía cửa sổ và cửa ra vào. ý nghĩ
của tôi nhanh chóng đổ dồn vào cái lỗ thông gió và
sợi dây giật chuông thõng xuống đầu giường, như
tôi đã có lưu ý với anh.Tôi còn phát hiện thêm
được rằng sợi dây nọ chỉ là đồ giả và chiếc giường
ngủ bị gắn chặt vào gỗ lát sàn. những chi tiết đó
khiến tôi nghĩ ngay; sợi dây kia chỉ là một thức
cầu nối, giúp cho một vật đi từ lỗ thông gío xuống
giường ngủ. Tôi đoán đó phải là một con rắn, vì
biết lão bác sĩ có nhận một số giống vật từ ấn Độ
gửi sang.Tôi cảm thấy hình như mình đã lần ra đầu
mối. Rồi tôi nghĩ tới tiếng huýt sáo. Dĩ nhiên lão
phải gọi con rắn kia về trước khi trời sáng, để
khỏi bị nạn nhân phát hiện. Lão đã luyện cho nó
chắc là bằng đĩa sữa mà chúng ta đã thấy, khi nghe
tiếng huýt sáo mà lão gọi. Lão chỉ cho nó leo qua
lỗ thông gió vào thời điểm thích hợp, và biết rằng
nó sẽ theo sợi dây mà bò xuống đầu giừơng. Con rắn
có thể cắn người ngủ trên giừơng, mà cũng có thể
không. Đêm đêm, cô gái có thể thoát chết trong
vòng một tuần nhưng sớm muộn gì rồi cũng bị nó
cắn.
Tôi đã đi đến những kết luận đó trước khi đặt chân
vào phòng lão. Khi quan sát mặt ghế, tôi thấy lão
hay đứng lên đó. Lão nhất thiết phải làm vậy, vì
không thể nào với tay tới lỗ cửa thông gió sát
trên trần nhà. Cái tủ sắt, đĩa sữa và ngọn roi đã
đủ để xua tan những ngờ vực còn lảng vảng trong
trí tôi. Tiếng động mạnh do một vật bằng kim loại
phát ra, mà cô Stoner nghe được, rõ ràng do ông bố
dượng gây ra: lão cần đóng mạnh cánh cửa sắt để
nhốt con vật nuôi đáng sợ đó. Sau khi đã đi đến
những kết luận đó, tôi liền tiến hành việc chứng
minh, nhưng anh đã thấy đó. Khi nghe được những
tiếng động rất khẽ mà tôi nghĩ chính anh cũng nghe
rõ, tôi lập tức thắp đèn lên và tấn công con vật“.
- kết quả là anh đã đuổi nó bò trở lại lỗ thông
gió.
Và cũng chính bằng cách đó, tôi đã xua nó về lại
với ông chủ đang ngồi ở phòng bên. Bị đánh tới
tấp, con rắn trúng gậy mấy lần, nó nổi giận và tấn
vào kẻ đầu tiên mà nó chạm trán trên đường về. Và
chính vì vậy, không còn ngờ vực gì nữa, tôi gián
tiếp chịu trách nhiệm về cái chết của bác sĩ
Grimesby Roylott. Nhưng chắc là việc đó chẳng đè
nặng lên lương tâm tôi lắm đâu.
Hết
|