- Tôi
phải ở đây để xác minh một điểm.
- Điểm gì?
- Thế này: KHông biết Uyn-li đã tới trước hay
là chỉ tới sau khi tên trộm đã lọt vào nhà. Quý
vị đã nói rằng tuy cánh cửa bị cậy phá, nhưng
kẻ trộm chưa lọt vào bên trong.
- ”Điều đó là hiển nhiên rồi“. Cụ Cung-ninh trả
lời một cách nghiêm trang. ”Coi nào, A-léc vẫn
còn chưa vào giường chắc chắn là cháu nó đã nghe
thấy tiếng động“.
- Cậu ấy ngồi ở đâu?
- Trong phòng tắm của tôi, đang hút thuốc và
nhìn qua cửa sổ - Ông cụ trả lời.
- Cửa sổ nào? - Holmes nói tiếp
- Cửa sổ cuối cùng bên trái, kế bên cửa sổ phòng
cha tôi. - Aléc đáp.
- Đèn nơi phòng anh và nơi phòng ông cụ vẫn còn
thắp sáng cả chứ?
- Không còn nghi ngờ gì cả.
- ”Rõ ràng là có vài điẻm kỳ lạ trong vụ này“.
Holmes cười nói.“Một kẻ trộm vào nhà trong lúc
đèn vẫn còn sáng và cả hai người trong gia đình
còn thức“.
- Y phải cực kỳ bình tĩnh.
- ”Nếu vụ án mà không kỳ lạ, thì chúng tôi nhờ
ông làm chi“! A-léc nói:“ Kẻ trộm đã không lấy
đồ trước khi bị Uyn-li bắt gặp, bằng cớ là chúng
tôi đâu có mất món gì và hiện trường cũng không
bị bừa bộn.
- ” Cái đó còn tuỳ thuộc vào bản chất của những
món đồ“. Holmes trả lời. ”Chúng ta đang đối phó
với một kẻ trộm thuộc loại đặc biệt và hành động
theo cách đặc biệt, chẳng hạn như, cái lô hàng
ở nhà cụ ất - tân chỉ là một cuộn dây mành, một
cái phong vũ biểu....“.
- ”Chúng tôi phó thác hoàn toàn nơi ông, thưa
ông Holmes - Cụ Cung ninh nói.
- Mở đầu, tôi muốn cụ treo một giải thưởng. Tôi
đã soạn sẵn một mẫu, cụ có ưng ký tên không? Năm
chục bảng là đủ.
- ”Tôi sẵn lòng thưởng năm trăm“. Ông tòa hoà
giải nói, sau khi cầm lấy tờ giấy mà Holmes đưa
cho cụ.“ Nhưng giấy này chưa được đúng“, cụ nói
thêm khi đọc lướt qua nội dung“.
- Tôi viết nó khá vội...
- Coi này! Sao ông lại bắt đầu như vậy: ”Xét
rằng, vào hồi O giờ 3 phút, một mưu toan“. Nó
là hồi một khắc trước nửa đêm, mười một giờ bốn
mươi lăm phút, nếu ông ưa thế.
Sự nhầm lẫn đó khiến tôi buồn. Holmes nổi tiếng
là chính xác về các sự việc. Nhưng con bệnh đã
làm anh như đãng trí. Trong một lúc, anh bị bối
rối. Viên thanh tra nhướn lông mày lên. A-léc
thì phá ra cười. Ông già sửa chỗ viết sai và trả
tờ giấy lại cho Holmes, nói:
- Ông cho in càng sớm càng tốt. ý kiến của ông
thật là tuyệt hảo.
Holmes cẩn thận đặt tờ giấy vào trong bóp, rồi
nói:
- Ta cùng đi khắp nhà để tìm xem cái tên trộm
kỳ quặc kia đã mang đi món đồ nào.
Trước đó, Holmes quan sát cánh cửa đã bị cạy
phá. Một con dao cứng hoặc một cây kéo được cắm
sâu vào ổ khoá và ổ khoá đã bị bung ra. Những
dấu vết trên gỗ hãy còn thấy rõ. - Như vậy là
cụ không cần cho đặt then chặn cửa ? - Holmes
hỏi.
- Chúng tôi thấy không cần phải làm như vậy.
- Cụ có nuôi chó không?
- Có, chó được cột ở phía bên kia nhà.
- Các gia nhân đi ngủ vào lúc nào?
- Khoảng mười giờ.
- Thông thường thì Uyn li đi ngủ vào giờ đó,
phải không?
- Phải.
- Thật kỳ lạ! Vào đúng đêm đó, anh ta lại thức
khuya hơn thường lệ. Giờ đây, thưa cụ, chúng tôi
sẽ rất hân hạnh nếu được phép vô thăm nhà cụ.
Một hành lang lát đá, đưa tới một cầu thang bằng
cây dẫn thẳng lên lều một của ngôi nhà. Trên bậc
thềm dẫn lên một cầu thang thứ hai đi đến tiền
sảnh, người ta trông thấy ở đó nhiều cánh cửa
phòng khách cũng như cửa nhiều phòng, trong số
đó có cửa phòng cụ Cung-ninh và phòng A-léc. Holmes
bước chậm rãi, quan sát kỹ. Cứ theo vẻ mặt anh,
tôi biết anh đang theo một hướng điều tra nóng
bỏng.
- ”Ông hảo tâm của tôi ơi!“. Cụ Cung-ninh kêu
lên, vẻ mất kiên nhẫn. Điều này không cần thiết
đâu. Phòng của tôi là đây, nơi cuối cùng những
bậc thang, và phòng con trai tôi là phòng kế cận.
Nếu kẻ trộm lên đây thì cha con tôi đã nghe tiếng
động do hắn gây ra rồi.
- Ông hãy điều tra theo hướng khác thôi. - A-léc
nói với nụ cười.
- Tuy nhiên, tôi xin quí vị lượng thứ cho cái
ý thích thất thường của tôi. Chẳng hạn như tôi
muốn biết tầm nhìn từ những khuôn cửa sổ kéo dài
tới tận đâu. Phòng của anh A-léc đây ạ?“ Holmes
hỏi khi đẩy cánh cửa ra. ”Và đây là phòng tắm
mà anh đang ngồi hút thuốc thì có tiếng báo động.
Cánh cửa sổ mở ra cái gì đây?“.
Anh băng ngang phòng, mở một cánh cửa và liếc
nhìn sang căn phòng ở sát bên.
- Giờ đây ông đã được thoả mãn? - Cụ Cung-ninh
hỏi với vẻ hỏm hỉnh.
- Xin cảm ơn. Tôi đã thấy tất cả những gì muốn
biết.
- Nếu thật là cần thiết, chúng ta có thể vào
trong phòng tôi.
- Nếu không làm phiền cụ quá dáng...
Ông toà hoà giải nhún vai và ông dẫn chúng tôi
vào trong phòng riêng của ông, đồ đạc đủ tiện
nghi. Trong lúc chúng tôi đi ngang phòng tới hướng
khuôn cửa sổ, Holmes chậm bước lại để sánh ngang
tôi đi ở cuối toán. ở chân giừơng có kê một cái
bàn vuông nhỏ, trên có đặt một bình nước và một
giỏ cam. Khi đi ngang cái bàn, Holmes cuúi xuống
và hất đổ cái bàn. Bình nước vỡ tan và trái cây
vang tung toé. - Đồ quỷ, Watson“ . Anh kêu lên
một cách lạnh lùng. ”Thế là anh đã ngược đãi tấm
thảm rồi“:!
Hoàn toàn bối rối, tôi cúi xuống và bắt đầu tìm
lượm trái cây. Hẳn là vì một duyên cớ nào đó nên
Holmes mới muốn để tôi cáng đáng cái trách nhiệm
về sự vụng về này. Những người khác cũng lượm
trái cam và dựng cái bàn thẳng đứng trở lại.
- ”Coi kìa!“ Viên thanh tra kêu lên. ”Ông ấy
đi đâu vậy?“.
Holmes đã biến mất.
- ”Quý ông hãy đợi tôi ở đây“. - A-léc nói.
- Cái ông này coi bộ thần kinh không bình thường.
Hãy đi với con đi, ba!
Cả hai chạy vội ra khỏi phòng. Còn ba chúng tôi
cứ đứng đó, sững sờ nhìn nhau.
- ”Mẹ kiếp, tôi bắt đầu tin rằng cậu A-léc có
lý.“ Viên thanh tra thì thầm. Có thể đây là hậu
quả về căn bệnh của ông ấy, nhưng dù sao thì cũng...“
Bỗng ông ngưng mặt. Một tiếng kêu, gần như một
tiếng hét, vang lên.
- Cứu tôi với! Sát nhân!
Như người điên, tôi phóng ra thềm cầu thang,
bởi vì tôi đã nhận ra giọng Holmes. Những tiếng
kêu cứu đã biến thành tiếng rên rỉ khàn khàn,
không thành tiếng. Chúng thoát ra từ căn phòng
mà chúng tôi đã vào thăm trước hết. Tôi lao vào
trong, rồi chạy vào phòng tắm. Hai cha con Cung-ninh
đang cúi trên cơ thẻ lả đi của Holmes. Người con
dùng hai bàn tay siết chặt cổ họng Holmes, ông
bố thì vặn cổ tay anh. Trong chớp mắt chúng tôi
đã lôi được hai cha con ra. Holmes đứng lên, xanh
xao, lảo đảo.
- Hãy bắt giữ những người này, ông thanh tra!
- Anh hổn hển nói.
- Về tội gì?
- Tội ám sát người đánh xe của họ.
Viên thanh tra ngơ ngác nhìn anh.
- Coi nào, coi nào, ông Holmes, ông đâu muốn
nói rằng...
- Không à? Ông hãy nhìn họ mà xem ! - Holmes
kêu lên.
Ông già Cung-ninh đờ người ra, tưởng chừng như
hoá đá, khuôn mặt nhăn sâu, in hằn một nét tànnhẫn
sâu xa. Người con trai đã mất hết thói ba hoa,
thói nhạo báng, trong cặp mắt đen của anh ta loé
lên tính hung dữ của một con thú hoang, nguy hiểm.
Viên thanh tra đi ra cửa và rút cái còi ra. Hai
cảnh sát kéo tới nơi ngay đó.
- ”Thưa cụ Cung-ninh“, viên thanh tra nói. ”Tôi
hy vọng rằng chuyện này sẽ chấm dứt bằng sự chứng
minh về sự vô tội của cụ. Nhưng cụ cũng có thể
thấy rằng. A, anh muốn vậy sao? Hãy buông ngay
cái đó ra coi“!
Ông vung tay về phía trước và một khẩu súng lục
rớt xuống sàn nhà.
- ”Giữ lấy tang vật này“! - Holmes nói khi đặt
bàn chân lên khẩu súng. ” Nó sẽ có ích trong phiên
toà. Đây mới là cái chúng ta cần có hơn hết“!
Anh giơ lên cao một mảnh giấy nhỏ đã bị vò nát.
- Phần còn lại của lá thư? - Viên thanh tra reo
lên.
- Chính nó.
- Ông tìm ra nó ở đây vậy?
- ở chỗ mà tôi tin chắc là sẽ tìm ra nó. Tôi
sẽ giải thích. Thưa đại tá, ông và Watson có thể
trở về nhà. Tôi cũng sẽ về trong một giờ nữa.
Ông thanh tra và tôi, còn phải nói chuyện với
các phạm nhân.
Sherlock Holmes đã giữ lời. Khoảng một giờ sau,
anh bước vào phòng hút thuốc của ông đại tá. Anh
đi cùng với một ông lão mà anh giới thiệu là cụ
ất-tân. Holmes tươi cười nói:
- Thưa quý vị, ngay từ đầu, tôi thấy chìa khoá
của vấn đề là mẩu giấy nằm trong tay nạn nhân.
Nếu chuyện kể của A-léc là thật và nếu kẻ trộm
bỏ trốn ngay tức khắc, thì hắn đã không giựt và
làm rách tờ giấy. Nếu không phải như vậy thì thủ
phạm chính là A-léc, bởi vì trước khi ông già
xuống, nhiều gia nhân khác hẳn đã chạy tới. Đó
là một chi tiết đơn giản nhưng ông thanh tra đã
bỏ qua, bởi vì ông ấy cho rằng những vị chức trọng
quyền cao trong địa hạt chẳng liên can gì tới
vụ án.
Thế là tôi nghiên cứu thật kỹ cái mẩu giấy. Nó
đây này. Nó gợi ra một ý nào không?
- Toàn chữ không đều. - Ông đại tá nói.
- ”Ông bạn thân mến ơi“, Holmes kêu lên, ”nó
đã được viết bởi hai người, mỗi người viết một
chữ: Nhìn cách gạch ngang khá rõ nét trên chữ
”t“ trong những từ ”phút“ thì quý vị sẽ tin chắc
rằng toàn chữ do hai người viết. Một cuộc phân
tích ngắn cho phép quý vị xác nhận rằng những
từ ”sẽ được biết“ và ”nhiều“ được viết bởi một
bàn tay rắn rỏi, trong lúc từ ”hữu ích“ lại được
viết bởi một bàn tay yếu hơn.
- ”Sáng như ban ngày!“ Ông đại tá kêu lên. ”Tại
sao lại quái gởi khi cần đến hai người để viết
một lá thư“.
- Đây là một vụ bỉ ổi. Một trong hai người có
tính rất đa nghi, đã quyết định mỗi người có một
phần bằng nhau về điều gì sẽ xảy ra. Nhưng trong
hai người, kẻ viết những chữ ”một“ và chữ ”rất“
là kẻ xúi giục gây ra vụ này.
- Do đâu ông đi tới cái kết luận đó?
- Tôi so sánh đặc tính của hai chữ. Quý vị hãy
quan sát thật cẩn thận mẩu giấy này: người có
bàn tay rắn rỏi đã viết trước, và chừa lại những
khoảng trống để cho người kia điền vào. Nhưng
những khoảng trống đó không phải lúc nào cũng
đủ chỗ cho kẻ viết sau. Người có bàn tay yếu hơn
đã gặp khó khăn, chẳng hạn như khi ông ấy viết
chữ ”giờ“ vào khoảng giữa hai chữ ”một“ và ”bốn“.
”Một“ và ”bốn“ rõ ràng là những chữ đã được viết
từ trước. Vậy người được phép viết trước, là người
chủ mưu.
- Tuyệt vời! - Cụ ất- tân kêu lên.
- Hẳn quý vị đã biết rằng thông thường người
ta có thể xem xét nét bút mà đoán ra tuổi của
một người, chênh lệch chừng mươi năm. Tôi nói
thông thường, bởi vì có những trường hợp do bệnh
hoạn hoặc do suy yếu cơ thể thì kết quả sẽ khác
đi. Nhưng trong vụ này, khi quan sát chữ rắn rỏi
của một người (dấu gạch ngang trên các chữ t rất
rõ) và nét chữ ngập ngừng của người kia (những
chữ t gần như mất hẳn nét ngang) chúng ta có thể
xác định rằng trong hai người này, một người còn
trẻ và một người tuổi đã cao, tuy hãy còn tráng
kiện.
- Tuyệt vời! - Cụ ất-tân kêu lên lần nữa.
- Tuy nhiên, giữa hai nét chữ này có những điểm
giống nhau. Thường thì những sự giống nhau đó
xuất phát từ hai chữ ”e“ Hy Lạp mà cả hai cùng
viết giống nhau. Nhưng những nét giống nhau khác
kém khẳng định hơn cũng cho thấy cùng điểm đó.
Tôi tuyệt đối tin chắc rằng có ”một nét chữ gia
đình“ trong hai nét chữ viết này. Thế là tôi vững
tin rằng cha con ông Cung ninh là tác giá của
bức thư.
Tôi đi tới nhà đó cùng với ông thanh tra. Tôi
thấy rõ vết thương trên xác chết, đã gây ra bởi
một phát súng lục bắn cách xa hơn bốn mé.t Trên
quần áo nạn nhân không có những vết sạm đen gây
ra bởi thuốc súng. Vậy là A-léc đã nói dối khi
khai rằng hai người đang đánh lộn thì súng nổ.
Mặt khác, hai cha con đều đồng ý về cái nơi mà
”hung thủ“ đã bỏ chạy ra đường. ở chỗ đó có một
vài hố ngập bùn, nhưng không hề có những dấu chân:
nghĩa là chẳng hề có một kẻ xa lạ nào can dự vào
vụ án.
Tôi lại còn phải khám phá cái động cơ của tội
ác kỳ cục này. Trong mục đích đó, trước hết tôi
phải tìm hiểu vụ trộm xảy ra nơi nhà cụ ất-tân.
Ông đại tá đã nói rằng một vụ tranh tụng đã làm
cho cụ ất-tân với cha con Cung - ninh kình địch
nhau. Ngay lập tức, tôi đoán là họ đã xông vào
thư viện nhà cụ với ý định lấy trộm một tài liệu
quan trọng khả dĩ giúp họ chiếm phần thắng ở phiên
toà.
- ”Tuyệt vời!“ Cụ ất-tân lại kêu lên y như hai
lần trước. ”ý định của họ thật rõ. Tôi có đủ giấy
tờ để được hưởng phần nửa cơ nghiệp của nhà đó.
Nếu họ cướp những giấy tờ ấy, thì chúng tôi nguy
mất“.
- Chúng ta tới đích rồi vậy!“ Holmes cười nói.
”Đó là một mưu toan khá liều lĩnh do A-léc đề
xướng. Lục soát khắp nơi mà không tìm ra được
cái gì, họ đã làm như những tên trộm tầm thường
để đánh lạc hướng cảnh sát. Chính vì thế mà họ
đã quơ lấy bất cứ cái gì họ thấy. Tất cả điều
đó đã khá sáng tỏ, nhưng tôi còn muốn thâu hồi
lại phần còn thiếu của lá thư. Tôi tin chắc rằng
A-léc đã nhét vào trong túi áo ngủ. Vả chăng,
anh ta còn có thể để nó vào đâu? tất cả vấn đề
là tìm hiểu xem nó có còn ở đó không? Vì thế tất
cả chúng ta đều đi vào trong nhà.
Cha con nhà Cung - ninh đã gặp chúng tôi ở bên
ngoài, gần bên cánh cửa nhà bếp. Cần phải tuyệt
đối không làm cho họ nhớ lại sự hiện hữu của tờ
giấy đó; nếu không, họ sẽ huỷ nó đi ngay tức khắc.
Viên thanh tra sắp ám chỉ đến tờ giấy khi giải
thích với họ về tầm quan trọng của nó. Lúc đó“tình
cờ“ tôi bị mệt và đề tài của câu chuyện được thay
đổi.
- Trời đất thánh thần ơi! - Ông đại tá cười vang.
- Đóng trò khéo tuyệt vời! - Tôi kêu lên khi
nhìn Holmes với lòng khâm phục.
- Có những trò hề hữu ích“, Holmes trả lời. ”Khi
đứng lên, tôi đã có sẵn một mưu mẹo: làm cho ông
già Cung - ninh viết ra 2 chữ ”giờ“ và ”phút“
để có thể so sánh nó với 2 chữ giờ và phút viết
trên mẩu giấy.
- ồ, tôi ngu xuẩn làm sao! - Tôi kêu lên.
- Lúc đó tôi có nhìn thấy rõ lòng trẵc ẩn của
anh đối với tôi!“ Holmes cười nói. ”Tôi lấy làm
tiếc đã gây cho anh một nỗi buồn nho nhỏ. Khi
lên lầu, tôi vào trong phòng, tháy cái áo ngủ
treo ở đằng sau cánh cửa, tôi xô ngã một cái bàn
để chuyển hướng sự chú ý của họ trong chốc lát
và vội vã đi khám xét các túi áo. Tôi vừa mới
tìm ra được tờ giấy thì hai cha con nhào lên tôi.
Tôi thật sự tin rằng họ chủ tâm giết tôi, nếu
các bạn không tới kịp; người con thì siết cổ,
còn người ha vặn tay tôi để tôi phải buông tờ
giấy ra.
Sau đó, tôi đã nói chuyện tới ông Cung - ninh
để làm sáng tỏ cái động cơ gây ra tội ác. Ông
cụ tỏ ra biết điều, trong lúc A-léc vẫn cứ hung
hăng như loài quỷ dữ. Cụ Cung - ninh thú nhận
rằng Uyn-li đã bí mật theo dõi hai cha con ông
trong cái đêm họ đã ăn trộm nơi nhà cụ ất-tân.
Uyn-li đe doạ và đòi tiền họ. Nhưng A-léc không
thuộc hạng người dễ khuất phục. Thế là Uyn-li
đã già bẫy và bị giết. Nếu cha con nhà Cung -
ninh thu hồi được nguyên vẹn lá thư) trong đó
họ hẹn giờ gặp nhau), và nếu họ không sơ sớt một
vài chi tiết nhỏ, thì chẳng bao giờ họ bị nghi
ngờ gì cả.
- Thế còn cái lá thư trứ danh đó đâu? - Tôi hỏi.
Sherlock Holmes đặt nó trước mặt chúng tôi khi
ráp hai mảnh giấy lại. Chúng tôi đọc được: Nếu
anh tới vào lúc mười một giờ bốn mưới lăm phúc
ở cửa sau, anh sẽ biết được một điều làm anh ngạc
nhiên nhiều và nó sẽ rất hữu ích cho anh cũng
như cho cả An-ni. Nhưng chớ có tiết lộ với bất
cứ người nào“.
- Anh Watson, có điều là chúng ta chưa biết các
mối liên hệ giữa Aléc- Uyn-li và An- ni như thế
nào; nhưng rõ ràng kỳ nghỉ ngắn ngày của chúng
ta ở nông thôn rất là thành công. Ngày mai, tôi
sẽ trở về nhà, hoàn toàn khoẻ khoắn...