Ông Maso trông có vẻ bình tĩnh
và thoải mái. Ông mặc một bộ quần áo vải tuýt rộng
thùng thình, chân đi ghệt. Trông ông giống như một
ông chủ trại cỡ nhỏ, một người gác rừng đã về hưu,
hơn là giống một người đại diện cơ quan cảnh sát
hình sự cấp tỉnh. Ông không ngừng nhắc đi nhắc lại:
- Đây là một vụ án làm đau đầu đây, thưa ông Dona.
Tôi mong rằng chúng ta sẽ làm tốt được nhiều việc,
trước khi bọn ký giả rúc mũi vào cuộc điều tra làm
hỏng hết các dấu vết. Có nhiều chi tiết có lẽ sẽ làm
ông vui lòng., thưa ông Holmes. Cả đối với ông cũng
thế, thưa ông bác sĩ Watson. Buồng của các ông đã
được đăng ký trước ở khách sạn "Huy hiệu của Tây
Thành". Thôi để bác khuân vác trông coi hành lý và
xin mời các ông vui lòng đi theo tôi.
Chỉ sau 10 phút là chúng tôi đã có phòng ở và 10
phút sau nữa, chúng tôi đã ngồi cả trong phòng khách
của khách sạn. Ông Dona giở sổ tay ra ghi. Còn
Holmes thì có dáng điệu của một nhà thực vật học vừa
ngạc nhiên vừa ngắm nghiá một bông hoa. Sau khi nghe
xong câu chuyện, anh ta reo lên:
- Tuyệt. Thật là tuyệt. Chưa có một vụ nào kỳ lạ như
vụ này.
Ông Maso hớn hở:
- Vâng, tôi đã trình bày với các ông tất cả những gì
mà thượng sỹ Will báo cáo với tôi. Thượng sĩ đã nắm
được hết mọi sự kiện. Tôi đã có kiểm tra lại, suy
nghĩ, và có bổ sung thêm chút ít.
- Thế ông có biết thêm điều gì mới nữa không? -
Holmes hỏi.
- Trước hết, tôi xem xét chiếc búa, không tìm thấy
một dấu vết gì của bạo lực cả.
Ông thanh tra Dona lưu ý:
- Trong nhiều vụ án mạng, nạn nhân bị đập bằng búa,
mà trên chiếc búa có thấy dấu vết gì đâu.
- Đúng như vậy. Sau đó tôi xem xét đến khẩu súng.
Súng được lắp đạn ghém, hai cò súng được buộc với
nhau, chỉ cần bóp cò thì cả hai viên đạn ở hai nòng
để nổ một lúc. Nòng súng bị cưa ngắn đi, như vậy có
thể dễ dàng mang nó theo dưới một áo khoác. Toàn bộ
tên của nhà sản xuất thì không thấy có, nhưng trên
những đường góc giữa hai nòng súng thấy còn lại chữ
"PEN", các chữ khác thì bị cưa đi mất rồi.
Holmes hỏi luôn"
- Một chữ P hoa có vẽ hoa lá bên trên, và một chữ E,
một chữ N nhỏ hơn có phải không ạ?
- Đúng đấy ạ.
- Hãng sản xuất súng Mỹ tên là "Pennsyl-vania Small
arm Company"
Ông Maso nhìn Holmes với cặp mắt của một ông thầy
thuốc nông thôn nhìn một đại chuyên gia trong ngành
y tế.
- Không còn nghi ngờ gì nữa, đúng là một khẩu súng
Mỹ rồi. Tôi có đọc đâu đấy rằng súng săn cưa nòng,
chính là một loại vũ khí thường dùng trong một số
vùng nào đó ở bên Mỹ. Như vậy có rất nhiều khả năng
là cái tên đã lọt vào trong lâu đài và đã giết ông
chỉ nhà là ngươì Mỹ.
Ông Dona gật gù:
- Ông đi mau quá đấy, tôi chưa có chứng cớ gì để tin
rằng có một kẻ lạ mặt đã lọt vào trong này.
- Cửa sổ mở toang, vết máu trên thành cửa, mẩu bìa
cứng, vết giày ở góc nhà, khẩu súng...
- Mấy thứ đó chẳng có cái gì mà không bố trí trước
được? Ông Du-gia vốn là một người Mỹ, ông Bar cũng
thế, vậy thì đâu nhất thiết phải đưa một người Mỹ
khác từ ngoài lọt vào để giải thích những chi tiết
Mỹ đó.
- Am, người đầu bếp...
- Anh ta có đáng tin cậy không?
- Anh ta đã ở với gia đình Du-gia từ 5 năm nay. Anh
ta chưa hề trông thấy khẩu súng này trong nhà.
- Khẩu súng này không phải là thứ đem trưng bày cho
mọi người thấy. Chính vì thế người ta mới đem cưa
nòng của nó đi. Nó có thể đem cất giấu vào bất cứ
một cái hộp nào. Làm sao anh Am lại có thể đoán chắc
được rằng trong nhà không có một khẩu súng loại này.
- Nhưng dù sao thì tôi cũng chưa trông thấy nó bao
giờ.
Dona vẫn lắc đầu không chịu:
- Tôi vẫn chưa tin là có một người lạ mặt vào đây.
Tôi xin các ông hãy thử suy nghĩ xem hậu quả sẽ như
thế nào khi giả thiết rằng khẩu súng này là do một
người từ bên ngoài mang vào và người này đã hành
động như các ông vừa nói.
Holmes lấy cái giọng rất "chánh án" chỉ Dona, nói:
- Ông Dona, toà nghe lời khai của ông.
- Hung thủ không phải là một tên ăn trộm tầm thường.
Chuyện chiếc nhẫn và mẩu bìa cứng đã chứng tỏ rằng
đây là một vụ giết người có âm mưu, vì một lý do cá
nhân nào đó mà ta chưa rõ.
- "Vậy hung thủ đã lẩn vào trong nhà với ý định gây
ra một vụ án". Maso nói. "Hắn biết sẽ gặp khó khăn
khi muốn thoát ra vì lâu đài được bao bọc bởi một
đường hào đầy nước. Vậy thì hắn sẽ chọn thứ vũ khí
gì? Chắc các vị sẽ trả lời tôi: Một vũ khí thầm lặng.
Dùng vũ khí đó, thì sau khi gây ra án mạng, hắn có
thể hy vọng chui nhanh qua cửa sổ, lội qua con hào
rồi bình tĩnh chạy trốn. Như vậy, thì tôi có thể
chấp nhận được, Còn nói hắn chọn một khẩu súng,
trong khi hắn biết tiếng nổ sẽ làm cho mọi người
trong nhà đổ xô đến và hắn sẽ bị phát hiện trưóc khi
lội qua con hào.Liệu luận cứ này có lý không, thưa
ông Holmes".
Anh bạn tôi suy nghĩ một lát rồi đáp:
- Tất nhiên là ông đã trình bày sự việc một cách
không thể cãi được. Nhưng mà phải có chứng minh. Tôi
xin phép được hỏi ông Maso, không biết ông có xem
xét ngay bờ bên kia của đường hào để tìm dấu vết của
một người từ dưới nưóc lội lên không?
- ở đó không có một dấu vết nào. Bờ bên kia xây bằng
đá, thành ra cũng khó thấy.
- Không có một cái vết, không có một dấu in nào,
không có gì cả hay sao?
- Tuyệt đối không.
- A, thế nếu bây giờ tất cả chúng ta cùng đi ngay ra
đấy xem lại.
- Tôi cũng định đề nghị như vậy. Nhưng có lẽ tốt hơn
cả, tôi thông báo hết mọi chuyện để ông nắm trước
khi ra đấy.
Maso nhìn Holmes, không tin tưởng gì lắm.
Ông thanh tra Dona nói:
- Tôi đã có làm việc với ông Holmes và ông đã chịu
vào cuộc với chúng ta rồi.
Holmes cười tủm tỉm:
- Tôi vào cuộc nhưng với quan niệm riêng của tôi về
cách chơi. Tôi có chú ý đến một vụ nào cũng cốt là
để giúp đỡ công lý và công việc của cảnh sát mà
thôi. Nếu tôi có đứng ngoài cơ quan cảnh sát thì
cũng chỉ vì cơ quan này gạt tôi ra ngoài. Nói rõ như
thế rồi, tôi đòi hỏi quyền được làm việc theo những
phương pháp riêng và khi nào thấy có thể được, tôi
sẽ xin thông báo với ông những kết quả toàn bộ làm
một lần, chứ không phải từng phần một.
Ông Maso nói:
- Chúng tôi rất hân hạnh về sự có mặt của ông, bác
sĩ Watson, chúng tôi hy vọng rằng sau này chúng tôi
sẽ được ông dành cho một chỗ trong những tác phẩm
của ông.
Chúng tôi đi xuôi xuống một con đường làng giữa hai
hàng cây dương đã hớt ngọn. ở phía dưới hai cây cột
bằng đá phủ rêu còn dấu vết của con sư tử đá ngày
xưa. Sau một khúc quẹo gấp cuối cùng, chúng tôi
trông thấy toà nhà cổ thấp xây bằng gạch cũ. Toà lâu
đài đã qua ba thế kỷ, chứng kiến biết bao sự ra đời,
bao lần đi xa trở về tổ ấm, bao nhiêu cuộc khiêu vũ,
bao nhiêu cuộc hẹn hò. Nay những bức tường cổ kính
này lại phải chứng kiến một tấn thảm kịch thương
tâm.
Maso chỉ cho chúng tôi:
- Đó, cửa sổ đó. Cái cửa ở ngay bên phải sát cây cầu
rút. Nó được mở toang ra đúng như trong đêm hôm qua.
- Nó hẹp quá, làm sao một người chui qua được.
- Tên hung thủ chắc không mập lắm. Ông và tôi, chúng
ta đều chui qua được một cách dễ dàng.
Holmes đi tới con hào, xem xét bãi cỏ cùng bờ đá.
Maso nhắc lại:
- Tôi đã xem kĩ lắm rồi, không có bất cứ một dấu vết
gì chứng tỏ có một người từ dưới nước đi lên.
- ở đây cứ luôn đục bùn thế này?
- Thường thì nước có màu này. Giòng nước sông đưa
phù sa vào.
- Nó sâu bao nhiêu.
- ở gần bờ thì khoảng 60 phân, còn giữa thì một
thước.
- Như vậy chúng ta có thể loại bỏ giả thiết là hắn
bị chết đuối khi lội qua hào.
- Trẻ con cũng không chết đuối.
Chúng tôi bước qua chiếc cầu rút và một nhân vật
xương xẩu ra mở cửa cho chúng tôi: Đó là Am. Anh
chàng vẫn còn run rẩy. Thượng sĩ ngồi cạnh trong căn
phòng xảy ra án mạng.
Ông bác sĩ Wu đã về.
Ông Maso hỏi:
- Có gì mới không, thượng sĩ Will?
- Thưa ông, không có gì.
- Thế thì anh có thể về nhà. Khi nào cần anh, sẽ báo
sau. Anh bảo anh đầu bếp hãy đi báo cho ông Bar, bà
Du-gia và bà hầu phòng rằng chúng tôi cần gặp họ.
Bây giờ, tôi xin trình bày quan điểm riêng của tôi,
sau đó các ông sẽ nói lên quan điểm của các ông...
Cái ông cảnh sat ở tỉnh nhỏ này coi bộ mới đàng
hoàng làm sao. Ông ta nắm rất vững mọi sự kiện và có
một bộ óc sáng suốt, lạnh lùng, nhất định ông ta sẽ
tiến rất xa về nghề nghiệp. Holmes nghe ông ta nói
một cách chăm chú.
- ... Đây là một vụ tự sát? Hay là một vụ ám sát?
Nếu đây là một vụ tự sát thì chúng ta phải tin rằng
người nay bắt đầu tháo chiếc nhẫn cưới của mình ra,
đem giấu đi./ Rồi người đó đi xuống đây, đặt đôi
giày có dính bùn vào đằng sau bức rèm cửa để làm cho
người ta tưởng là có ai đứng đợi ở đó, sau đó mở
toang cửa sổ ra, bôi máu lên thành...
Ông Dona cắt ngang:
- Chúng ta có thể gạt bỏ giả thiết này.
- Vậy thì đã xảy ra một án mạng. Chúng ta phải tìm
xem hung thủ là người trong nhà hay từ ngoài vào.
- Chúng tôi xin nghe lập luận của ông.
- Trong cả hai trường hợp đó, chúng ta đều vấp phải
những khó khăn to lớn. NHưng không thể có một giả
thiết thứ ba. Chỉ một trong hai giả thiết đó thôi.
Trước hết chúng ta hãy giả thiết: hung thủ là người
ở ngay trong lâu đài này. Chúng đã hạ ông Du-gia
trong một thời điểm mà tất cả mọi sự đều yên tĩnh,
nhưng chưa ai ngủ cả.
Mặt khác, chúng đã gây án mạng bằng một vũ khí lạ
nhất và ầm ĩ nhất, để sau đó mọi người đều biết. Một
vũ khí mà trước đó, chưa ai nhìn thấy ở trong nhà.
Như vậy thật cũng khó tin quá.
- Vâng khó tin thật.
- Tất cả mọi lời khai đều khớp với sự kiện này. Sau
khi báo động, chỉ chưa đầy một phút, thì mọi người
đã có mặt ở hiện trường. Như vậy thì liệu các ông có
tin được rằng trong một khoảng thời gian rất ngắn mà
hung thủ đã làm rất nhiều việc: in các dấu chân
trong góc nhà, mở cửa sổ, làm vấy máu lên thành cửa,
rút chiếc nhẫn cưới ra rồi lại gắn vào ....
Holmes tán thành:
- Ông đặt vấn đề một cách rất rõ ràng.Tôi ngả theo
quan điểm của ông.
- Như vậy, chúng ta bắt buộc phải trở lại giả thiết
do một người ở ngoài gây ra. Tên sát nhân đã lọt vào
nhà trong khoảng thời gian từ 4 giờ rưỡi đến 6 giờ
chiều. Hôm đó có tiếp khách, cửa mở rộng, nên không
có gì ngăn được nó. Cũng có thể nó chỉ là một tên ăn
trộm tầm thường thôi. Cũng có thể nó là một người có
hận thù riêng gì với ông Du-gia. Nó đã chui vào căn
phòng này và đã trốn ở đằng sau bức rèm cửa. Nó đứng
ở đó đến quá 11 giờ đêm. Vào giờ này ông Du-gia bước
vào phòng. Cuộc đối thoại với tên sát nhân rất ngắn
ngủi, vì bà Du-gia khai rằng chồng bà mới đi xuống
chừng vài phút thôi là bà đã nghe thấy tiếng súng .
- Cây nến cũng phù hợp với điều đó. - Holmes nói.
- Đồng ý. Cây nến còn mới, chỉ cháy khoảng 1 phân
rưỡi, chắc ông ta đã đặt nó lên bản trước khi bị tấn
công; nếu không, nó đã rơi xuống đất khi ông ta ngã.
Điều này cũng chứng tỏ là ông ta không bị tấn công
ngay khi vừa bước vào phòng.
- Tất cả đều rõ ràng.
- Bây giờ chúng ta có thể hình dung lại diễn biến
của vụ án.: Ông Du-gia bước vào phòng, đặt cây nến
lên bàn. Một người từ sau bức rèm hiện ra. Hắn có
mang cây súng. Hắn đòi chiếc nhẫn cưới. Ông Du-gia
đưa nhẫn cho hắn. Thế là hắn bắn ông Du-gia vì ông
này đã vớ được cái búa để trên thảm. Hắn bỏ rơi khẩu
súng xuống, và cả mẩu bìa cứng có mang chữ "TLV
341". Rồi hắn chạy trốn qua cửa sổ và lội qua hào
giữa lúc ông Bar phát hiện ra vụ án mạng. Ông nghĩ
thế nào ông Holmes?
- Rất hay, nhưng chưa thuyết phục được người nghe.
Ông Dona kêu lên:
- Ông bạn thân mến, tôi sẽ chứng minh cho ông thấy
là nó sẽ hành động theo một cách khác. Tại sao nó
dám dùng một khẩu súng sau khi nó biết rằng muốn
thoát ra thì phải dùng một vũ khí thầm lặng. Nào,
ông Holmes bây giờ xin ông cho biết ý kiến.
Holmes hết liếc mắt từ phải qua trái rồi từ trái
sang phải. Anh đứng dậy, đến quỳ bên xác chết.
- Tôi muốn có thêm một vài sự kiện bổ xung, trước
khi đi vào một giả thiết, thưa ông Dona. Những vết
thương này thật là khủng khiếp. Chúng ta có thể cho
anh đầu bếp vào đây một lát được không, các ông...
Anh Am, tôi chắc rằng anh đã được nhìn thấy nhiều
lần cái hình rất kì lạ này, một tam giác trong một
đường tròn, áp bằng sắt nung đỏ lên cẳng tay của ông
Du-gia phải không?
- Vâng, thưa ông, nhiều lần ạ.
- Anh có bao giờ nghe thấy một lời nói nào có thể
giải thích được ý nghĩa của cái dấu ấy không?
- Thưa ông, không.
- Chắc lúc mới áp vào phải đau đớn lắm đấ., Rõ ràng
là một vết bỏng. Này anh Am, bây giờ tôi trông thấy
một miếng băng dính ở dưới cằm ông Du-gia. Anh có
nhận thấy không?
- Thưa ông có ạ. Sáng hôm qua, ông ấy đã bị đứt khi
cạo mặt.
- Ông ấy có hay bị đứt như vậy khi cạo mặt không?
- Thưa ông, hầu như không.
- Rất hay. Tất nhiên đây chỉ là một sự ngẫu nhiên
thôi. Nếu không, nó chứng tỏ ông ta đang lo lắng về
một mối nguy hiểm nào đó. Anh Am, ngày hôm qua anh
có nhận thấy có một cái gì đó khác thường trong sinh
hoạt của ông chủ không?
- Ông chủ tôi có hơi bồn chồn và cáu gắt.
- à, thế thì. Hình như chúng ta đã tiến thêm được
vài bước. Ông Dona, ông có muốn đích thân hỏi thêm
gì nữa không?
- Không, xin nhường cho những người cao minh hơn.
- Vậy thì chúng ta quay sang mẩu bìa "TVL 341". Đây
là một loại bìa "TLV 341". Đây là một loại bìa tồi,
ở trong nhà có thứ bìa nào giống thế này không?
- Thưa ông, không ạ.
Holmes đi lại bên bàn giấy, lấy mỗi lọ mực, đổ vài
giọt lên giấy thấm.
- Những chữ này không phải viết ở đây rồi. Viết bằng
mực đen, còn mực ở đây màu đỏ gạch, vả lại viết bằng
một ngoì bút to nét, còn những ngòi bút ở đây đều
nhỏ nét cả.
- Không, những chữ này đã được viết ở nơi khác rồi.
Anh Am, anh có cho rằng những chữ này có ý nghĩa gì
không?
- Thưa ông, tôi không biết.
- Ông nghĩ thế nào, ông Dona?
- Nó làm tôi nghĩ đến một hội kín. Cái dấu ở trên
cánh tay kia cũng thế.
- Tôi cũng nghĩ như vậy. - Ông Maso lên tiếng.
- Chúng ta chọn giả thiết đó. Một thành viên của một
hội kín lọt vào trong lâu đài, chờ ông Du-gia và bắn
vỡ sọ ông ta, rồi trốn ra bằng đường hào, sau khi đã
vứt lại bên cạnh nạn nhân một mẩu bìa cứng có ghi
những chữ mà khi báo chí đăng lên sẽ báo tin cho các
thành viên khác của hội biết rằng việc trả thù đã
hoàn thành. Tất cả mọi cái đều khớp.
- Nhưng tại sao lại dùng súng, mà không dùng bất cứ
vũ khí nào khác?
- Đúng thế.
- Và tại sao chiếc nhẫn cưới lại biến mất?
- Đồng ý.
- Tại sao người ta lại chưa bắt được người nào? Bây
giờ là 14 giờ rồi, tôi chắc rằng từ rạng đông đến
giờ tất cả cảnh sát đang truy lùng một người lạ mặc
quần áo ướt và lấm bùn.
- Vâng, ông không nhầm, ông Holmes ạ.
- Nếu hắn không có một nơi ẩn nấp ở gần đây, và nếu
hắn không thay được quần áo, thì cảnh sát không để
lọt lưới. ấy vậy mà cho đến giờ này, hắn đã lọt lưới
thật....
Holmes đi lại phía cửa sổ, và rút chiếc kính lúp ra,
xem xét vết máu trên thành cửa.
- Đúng là vết in của một bàn chân. To hơn bình
thường. Phải nói là giống như một bàn chân phẳng.
Một điều kì lạ khác nữa: Cái vết chân dính bùn ở góc
nhà kia lại có vẻ bình thường hơn vết này. Nói cho
ngay ra, thì tất cả đều mờ nhạt không rõ ràng. Còn
cái gì ở dưới gầm chiếc bàn con thế kia?
- Những qủa tạ của ông Du-gia. - Am đáp.
- Chỉ thấy có một quả thôi, Còn quả kia đâu?
- Thưa ông, tôi không biết. Có thể là chỉ có một quả
thôi, Đã hàng tháng nay tôi không nhìn xuống đó.
Holmes nói một cách trầm ngâm:
- Một quả tạ ....
Một tiếng gõ cửa đã ngắt lời anh. Một người đàn ông
cao lớn, mặt cạo râu nhẵn nhụi, da rám nắng, trông
thông minh, lanh lẹ bước vào. Đó là Bar. Đôi mắt
quen ra lệnh của ông ta đảo nhìn chúng tôi một lượt.
- Tôi xin lỗi đã làm gián đoạn cuộc họp, nhưng tôi
muốn báo các ông một tin cuối cùng,
- Đã bắt được rồi ư?
- Chưa. Nhưng người ta đã tìm thấy chiếc xe đạp,
hung thủ đã bỏ nó lại. Chỉ cách cửa ngoài không đầy
một trăm thước thôi,
Mấy gia nhân cùng những người hiếu kì đang ngắm
nghiá một chiếc xe đạp mà người ta vừa lôi ở trong
một bụi cây ra. Cái túi sau yên xe đựng một chiếc cờ
lê và một lọ dầu nhớt, nhưng không có một chỉ dẫn
nào về người chủ của nó. ông thanh tra thở dài, nói:
- Công việc sẽ đơn giản biết bao nếu xe này có mang
biển số. Nhưng chúng ta sẽ biết được ngay chủ nó
mang xe từ đâu đến. Nhưng mà, tại sao hắn lại vứt bỏ
chiếc xe đạp? Làm thế, hắn không đi xa được. Ông
Holmes này, hình như chúng ta chưa có được một tia
sáng nào.
- Chính tôi cũng đang tự hỏi như vậy. - Holmes đáp.
(Hết Chương 4 ... Xin xem tiếp
Chương 5) |