|
Trong khi ba nhà thám tử đi thẩm
tra lại một số chi tiết, tôi đi dạo một vòng khu
vườn ở bên hông lâu đài. Được bao quanh bởi những
hàng cây thuỳ dương uy nghi, khu vườn có một bãi
cỏ rất đẹp, ở giữa là một chiếc đồng hồ mặt trời
cổ kính. Sự yên tĩnh ở đây làm cho thần kinh tôi
như giãn hẳn ra.
Đi về phía xa nhất của toà lâu đài, những lùm
cây mọc sát vào nhau làm thành một thứ hàng rào
rất kín. Đằng sau hàng rào, có một chiếc ghế kê
khuất hẳn, người đi từ phía lâu đài lại không
thể nhìn thấy được. Đi gần đến đó, tôi chợt nghe
tiếng nói của đàn ông, và một tiếng nói nhỏ của
phụ nữ. Một lát sau khi đã đi vòng qua hàng rào,
tôi trông thấy bà Du-gia đang ngồi với ông Bar.
Vẻ mặt của bà ta làm tôi phải kinh ngạc. Lúc nãy,
bà tỏ ra nghiêm nghị và dè dặt bao nhiêu thì bây
giờ, bà ta yêu đời bấy nhiêu; khuôn mặt vẫn còn
rung lên trong sự thích thú vì câu nói vừa rồi
của ông Bar. Ông ngồi nghiêng người ra phía trước,
hai tay đan vào nhau, một nụ cười tươi làm rạng
rỡ hẳn bộ mặt rắn rỏi. Khi trông thấy tôi, họ
lấy lại nét mặt trang nghiêm, thì thầm với nhau
câu gì đó, rồi Bar đứng dậy và tiến về phía tôi:
- Thưa ông, có phải tôi đang được hân hạnh nói
chuyện với bác sĩ Watson không?
Tôi chào lại một cách lạnh nhạt.
- Chúng tôi nghĩ rằng có lẽ đúng là ông, người
mà ai ai cũng biết là bạn thân của ông Holmes.
Bà Du-gia mong muốn được thưa với ông một đôi
điều.
Tôi cau mày và đi theo ông ta. Hình ảnh của người
chết lại hiện ra trong đầu tôi. Chỉ vài giờ sau
tấn thảm kịch thì vợ và bạn của kẻ xấu số đã cười
đùa vui vẻ với nhau. Tôi chào bà Du-gia một cách
dè dặt.
- Tôi sợ rằng ông sẽ coi tôi là một người đàn
bà không tốt.
- Đó không phải là việc của tôi. - Tôi nhún vai,
nói.
- Có thể một ngày nào đấy, ông sẽ hiểu được rằng...
- Cũng không cần thiết là bác sĩ Watson phải hiểu.
Đúng như ông ta nói, đây không phải là việc của
ông. - Ông Bar nói.
- Đúng thế. Vì vậy tôi xin phép được tiếp tục
đi dạo.
- "Xin hãy khoan, bác sĩ Watson!". Bà
Du-gia kêu lên. "Ông hiểu biết ông Holmes
và những mối quan hệ của ông ta với cơ quan cảnh
sát hơn ai hết. Nếu có một sự việc nào đó đem
nói riêng với ông ta, thì ông ta có luôn luôn
đem báo cáo lại với các thám tử của chính quyền
không?"
- Xin hỏi ông Holmes làm việc riêng cho ông ta,
hay ông ta làm việc cho cảnh sát? - Bar cũng nhấn
mạnh thêm.
- Tôi cũng không biết mình có đủ thẩm quyền để
bàn về vấn đề này không.
- Tôi van ông. Nếu ông mách cho chúng tôi điều
này, thì ông sẽ giúp đỡ cho chúng tôi nhiều lắm.
Trong giọng nói của bà chứa đựng một cái gì nghe
thành thật quá, đến nỗi lúc đó tôi quên hết cái
chuyện vô tâm của bà, và chỉ nghĩ cách làm sao
cho bà vui lòng:
- Ông Holmes là một nhà điều tra độc lập. Ông
ấy tự làm chủ lấy mình và hoạt động theo sự suy
nghĩ riêng của ông. Mặt khác, ông ấy cũng phải
tỏ ra trung thực đối với những thám tử của nhà
nước cùng làm việc trong một vụ án, và ông ấy
sẽ không giấu diếm họ bất cứ một điều gì có thể
giúp họ đưa các tội phạm ra trước công lý. Như
vậy bà và ông nên hỏi thẳng ông Holmes.
Nói thế rồi, tôi nhấc mũ lên chào và bỏ đi, để
mặc họ ngồi đằng sau lùm cây.
Khi tôi đi khỏi hàng rào và quay lại thì thấy
họ vẫn đang bàn cãi và trông theo tôi.
Khi tôi kể lại cho Holmes nghe câu chuyện vừa
rồi, Holmes trả lời: "Tôi không mong ước
được nghe những lời tâm sự của họ". Sau đó
Holmes làm việc với hai đồng nghiệp suốt buổi
chiều ở lâu đài và mãi 5 giờ mới về. Anh còn nhắc
lại lần nữa:
- Này Watson, không có tâm sự gì cả đấy nhé. Những
tâm sự này sẽ trở nên rất cộm nếu sau này có sự
bắt bớ về tội đồng loã.
- Sắp tiến đến bước đó rồi à?
- Khi nào tôi tiêu diệt xong cái quả trứng thứ
tư này, tôi sẽ nói cho anh biết tình hình hiện
nay. Tôi không nói rằng chúng ta đã giải được
bài toán. Còn xa đấy. Nhưng khi nào chúng ta tìm
thấy quả tạ còn thiếu kia thì.....
- Quả tạ à?
- Tất cả vụ án này quay chung quanh cái quả tạ
vắng mặt kia. Một quả tạ duy nhất. Anh hãy tưởng
tượng có một nhà lực sĩ nào chỉ tập với một quả
tạ thôi, trẹo cột sống.
Anh ta nhai nhồm nhoàm cái bánh ngọt, hai mắt
long lanh tinh nghịch: trông anh ăn ngon như thế
cũng đủ hiểu là công việc tiến hành tốt rồi ;
ăn xong, anh đến ngồi bên góc chiếc lò sưởi của
quán trọ, bắt đầu nói:
- Nói dối. Nói dối to bằng cái đình. Tất cả câu
chuyện của Bar là nói dối. Nhưng câu chuỵên của
Bar lại được bà Du-gia công nhận. Vậy thì bà Du-gia
cũng nói dối. Bởi vậy, giờ đây chúng ta đang đứng
trước bài toán này: Tại sao họ lại nói dối, và
cái sự thật họ đã cố gắng che giấu là gì? Theo
họ kể lại thì tên sát nhân chỉ có một khoảng thời
gian chưa đầy một phút để tháo chiếc nhẫn thứ
nhất ra, lấy chiếc nhẫn cưới, rồi đeo chiếc nhẫn
thứ nhất vào tay nạn nhân. Chắc chắn là không
bao giờ nó làm như vậy đâu. Sau đó nó lại còn
nhớ để một mẩu bìa cứng bên cạnh xác chết nữa,
không thể làm kịp. Cậu có nói rằng: chiếc nhẫn
cưới đã được rút ra khỏi tay Du-gia trước khi
ông ta chết. Sự kiện cây nến cháy ít như vậy chứng
tỏ cuộc đối thoại chắc phải là ngắn ngủi. Lại
nữa một người can đảm, liều lĩnh như Du-gia liệu
có tháo ngay chiếc nhẫn cưới của mình đưa cho
tên sát nhân khi tên này mới đòi lấy không? Không,
tên sát nhân đã ở lại một mình với xác chết một
thời gian nữa sau khi cây nến được thắp lên. Nhưng
phát đạn là nguyên nhân đã gây ra cái chết. Vậy
thì phát đạn này được bắn sớm hơn là người ta
khai báo với chúng ta, vết máu ở trên thành cửa
sổ, chính là do Bar đã cố tình tạo nên ở đó để
đánh lừa cảnh sát. Hôm ấy, gia nhân trong lâu
đài còn đi lại đến mười giờ rưỡi đêm, vậy thì
vụ án không thể xảy ra trước giờ đó được. Đến
11 giờ kém 15 thì họ đi ngủ, chỉ trừ có Am lúc
đó đang ở trong bếp.
Chiều nay, sau khi anh đi về rồi, tôi có tiến
hành một vài thử nghiệm: Khi tôi đóng kín các
cửa lại, Dona gây ra nhiều tiếng động trong căn
phòng có án mạng ; ở dưới bếp không ai nghe thấy
cả. Nhưng đứng ở căn phòng riêng của bà hầu phòng
thì lại khác: ở trong buồng của bà này, tôi vẫn
nghe thoang thoảng tiếng người nói thật to ở nhà
trên. Tiếng nổ của một phát súng chắc không lớn
lắm, nhưng trong cái im lặng của ban đêm, thì
ở căn buồng của bà A-len cũng có thể nghe thấy
được. Bà ấy có nói là hơi nặng tai nhưng mặc dầu
vậy bà ấy lại khai là có nghe thấy tiếng một cánh
cửa đập nửa giờ trước khi có báo động. Nửa giờ
trước khi báo động, nghĩa là vào lúc 11 giờ kém
15, chắc chắn là cái tiếng mà bà ta cho là tiếng
đập cửa ấy, chính là tiếng súng và thời điểm 11
giờ kém 15 ấy chính là giờ xảy ra vụ án. Giả sử
ông Bar và bà Du-gia không giết người thì họ đã
làm gì trong khoảng thời gian từ 11 giờ kém 15
(Là lúc họ nghe thấy tiếng súng và chạy từ trên
lầu xuống) tới 11 giờ 15 (lúc họ giật chuông để
báo động với gia nhân). Tại sao họ lại không báo
động ngay? Khi trả lời được câu này, thì đã tiến
được một bước lớn.
- Tôi lại tin chắc là có một sự đồng loã giữa
hai con người này. Một người đàn bà phải tàn nhẫn
đến thế nào thì mới có thể cười cợt như vậy khi
chồng mới chết có vài tiếng đồng hồ.
- Đúng thế. Ta ít thấy có người phụ nữ yêu chồng
mà lại chỉ mới nghe một lời khuyên đơn giản như
thế đã không vào nhìn xác của chồng. Đó, chỗ này
đạo diễn có phần "yếu" quá, vì bất luận
một nhà điều tra nào dù ngu đến đâu cũng phải
chú ý đến việc ở đây thiếu hẳn những lời than
khóc của phụ nữ.
- Vậy thì Bar và bà Du-gia là những thủ phạm của
vụ án này phải không?
Holmes rút cái tẩu thuốc ở mồm ra, dứ dứ vào tôi
thở dài:
- Nếu anh muốn nói rằng bà Du-gia và Bar biết
sự thật về vụ án mạng nhưng họ cố che giấu thì
tôi đồng ý. Nhưng còn câu kết luận của anh, thì
tôi thấy chưa đủ chứng minh. Phải chăng họ đã
yêu nhau và đã quyết định phải ra tay? Không.
Những người trong làng đã nói là tuyệt đối không
có thế. Tất cả mọi cái đều chứng minh rằng gia
đình Du-gia rất thuận hoà êm ấm.
Tôi nhanh chóng nhớ lại nét mặt tươi cười mà tôi
đã bắt gặp trong khu vườn, nên cãi lại:
- Về vấn đề này thì anh đã sai rồi.
- ừ thì ít nhất họ cũng cho ta cái cảm giác là
họ thuận hoà với nhau. Như thế phải giả thiết
rằng cái đôi thủ phạm kia gian giảo, đến mức vừa
giết chồng, vừa đánh lừa được mọi người. Và trên
đầu người bị giết đang treo lơ lửng một mối nguy
hiểm nào đó ...
- ồ ... Giả thiết về mối nguy hiểm này chỉ do
một mình họ gợi ra mà thôi.
Holmes có vẻ suy nghĩ:
- Theo anh thì chẳng có mối nguy hiểm nào đe doạ
Du-gia, chẳng có thung lũng khủng khiếp. Họ bịa
ra những chuyện đó để giải thích vụ án mạng. Rồi
họ lại nghĩ ra việc bố trí một cái xe đạp giấu
trong bụi cây để chứng tỏ có sự hiện diện của
một kẻ lạ mặt. Cả vết máu trên thành cửa sổ cũng
nằm trong ý nghĩ đó. Rồi lại cả mẩu bìa cứng,
đáng lẽ ra có thể chuẩn bị ngay ở trong lâu đài.
Tất cả những cái ấy đều khớp với giả thiết của
anh. Nhưng ác cái lại có những góc cạnh khác cứ
lòi ra. Tại sao có súng cưa nòng? Tại sao lại
là súng Mỹ? Tại sao họ tin chắc là không ai nghe
thấy tiếng súng? Anh có thể giải thích được cho
tôi nghe không, Watson?
- Xin chịu.
- Nếu một người đàn bà cùng nhân tình âm mưu giết
chồng, thì liệu họ có dại dột đến mức tháo chiếc
nhẫn cưới ở tay người chết ra để "lạy ông
tôi ở bụi này" không? Điều này liệu có thế
xảy ra được không?
- Không?
- Lại còn thế này nữa: Nếu chính họ là những ngưòi
giấu chiếc xe đạp trong bụi cây, thì tất họ cũng
đủ tinh khôn để nghĩ rằng bất cứ một viên thám
tử nào cũng hiểu đây là một động tác giả, vì chiếc
xe đạp chính là cái mà một người chạy trốn cần
đến trước nhất để thoát.
- Chịu thôi.
- Vậy chúng ta hãy giả thiết tay Du-gia này có
một bí mật đáng xấu hổ trong đời. Bí mật này đưa
đến chỗ hắn bị ám sát bởi một người đi báo thù.
Người này, vì một động cơ nào đó đã tháo chiếc
nhẫn cưới của hắn. Ta cũng có thể giả thiết rằng
mối thù này có từ thời Du-gia lấy người vợ trước
kia, thì mới giải thích được việc tháo nhẫn cưới.
Trước khi hung thủ trốn thoát, thì Bar và bà Du-gia
ập vào phòng. Tên sát nhân nói với họ rằng nếu
họ bị bắt, thì bí mật ghê gớm của Du-gia sẽ bị
đưa ra ánh sáng. Hai người buộc lòng phải để cho
nó chạy trốn. Có lẽ họ đã hạ chiếc cầu xuống để
cho nó chạy đi rồi lại kéo cầu lên. Tên sát nhân
biết rằng đi bộ tốt hơn là dùng chiếc xe đạp,
nên đã để lại chiếc xe đạp ở chỗ mà người ta khó
phát hiện ra trước khi nó đã đi xa. Đến đây thì
chúng ta vẫn còn ở trong phạm vi những điều có
thể được, đúng không?
Tôi trả lời một cách không tin tưởng lắm:
- Tất nhiên là có thể được.
- Tiếp tục nhé, sau khi đã để cho tên sát nhân
trốn thoát, hai người kia biết mình đã lâm nguy,
bởi vì làm sao chứng minh được rằng họ không giết
Du-gia hay không phải là đồng loã của tên sát
nhân. Thế rồi họ chọn một quyết định: Bar lấy
chiếc giày vải, thấm máu in vết lên thành cửa
sổ để gợi ý là tên sát nhân đã trốn ra theo con
đường đó. Chắc chắn họ đã để chậm nửa giờ sau
khi sự việc xảy ra, rồi mới báo động.
- Làm cách nào để chứng minh được những điều đó.
- Một mình tôi ở lại đây một đêm thì sẽ có kết
quả.
- ở một mình suốt một đêm trong căn phòng xảy
ra án mạng?
- Tôi đã thu xếp với bạn Am rồi. Tôi sẽ tới ngồi
ở đó, và không khí trong phòng có lẽ sẽ gợi cho
tôi nhiều ý nghĩ hay. à, mà này, anh có mang theo
cái ô to gộc của anh đi đấy chứ.
- Có, kia kài.
- Thế thì xin cho tôi mượn.
- Được thôi. Nhưng ... nó có phải là một vũ khí
đâu.
- Không có gì nguy hiểm đâu. Bây giờ tôi chỉ còn
chờ các vị đồng nghiệp chúng ta ở Tunbridge Wells
về, họ lên đấy để xác minh chủ nhân của chiếc
xe đạp đó.
Trời tối mịt mới thấy ông thanh tra Dona và Maso
trở về. Họ vui mừng ra mặt, vì họ đã tiến lên
một bước khá dài.
- Chúng tôi đã xác minh được chiếc xe đạp và đã
có được hình dạng của người chủ nó. - Dona nói.
- Tôi xin hết lòng ca ngợi nhị vị - Holmes nói.
- Cậu Am khai là bữa trước hôm xảy ra án mạng,
ông Du-gia từ Tunbridge Wells về, có tỏ ra cáu
kỉnh khác thường. Vậy chắc là khi ở đó, ông được
biết có một mối nguy hiểm đang đe doạ mình. Như
thế nếu có ai đến đây bằng xe đạp, thì người đó
xuất phát từ Tunbridge Wells. Bọn tôi mang cái
xe đạp đến đó cho các khách sạn xem. Chủ khách
sạn "Con ó Thương mại" nhận ra ngay
là chiếc xe của một người Mỹ tên là Har đến thuê
buồng ở đó đã hai ngày rồi. Tất cả hành lý chỉ
có chiếc xe đạp với một cái va ly nhỏ. Anh ta
khai trong sổ đăng ký là từ Luân Đôn đến, nhưng
không nói rõ địa chỉ.
Holmes kêu lên vui sướng:
- Hô, hô. Hai ông đã làm được một công việc hết
sức tốt, trong khi tôi và ông bạn Watson cứ ngồi
đây mà xây dựng hết thuyết nọ đến thuyết kia.
Đấy, óc thực tiễn có lợi là như thế đó, ông Dona
ạ.
Ông thanh tra nở mày nở mặt, vui vẻ nói:
- Vâng, ông nói đúng đó.
Tôi nói với Holmes:
- Nhưng sự phát hiện này cũng khớp với giả thiết
của cậu kia mà.
- Khớp mà không khớp. Ông Dona, ông có tìm thấy
cái gì để xác minh được người ấy không?
- Không có bất cứ một thứ giấy tờ, thư từ, giấu
vết gì trên quần áo. Trên bàn của hắn, có một
tấm bản đồ của vùng này. Sáng hôm qua, sau khi
ăn điểm tâm xong, hắn ở khách sạn ra, lên xe đạp
đi, thế là biến luôn. Không ai thấy hắn nữa.
Maso ngắt ngang:
- Đó. Chính chỗ này làm cho tôi thắc mắc đây ông
Holmesss ạ. Nếu tên này muốn làm cho người ta
không chú ý đến hắn, thì hắn nên trở lại khách
sạn và ở đấy như một người du lịch bình thường.
Hắn thừa biết người chủ khách sạn phải báo cáo
với cảnh sát về sự mất tích của hắn, và tất nhiên
là người ta sẽ ráp sự mất tích của hắn với vụ
án mạng.
- Tất nhiên rồi, nhưng cho đến bây giờ nó vẫn
chưa bị bắt. Mà các ông có nắm được hình dạng
của nó không?
Dona mở cuốn sổ tay ra:
- Tôi đã ghi được những gì người ta nói với chúng
tôi đây. Hắn cao khoảng 1 thước 80, cỡ 50 tuổi,
tóc hơi hoa râm, râu cũng hoa râm, mũi két; về
cái bộ mặt của hắn, mọi người đều mô tả là dữ
dằn và đáng ngại.
- Trời đất. Trừ cái điểm cuối cùng ra, thì phải
nói là giống hệt một bức chân dung của chính Du-gia.
Tay này cũng khoảng hơn 50 tuổi, tóc cũng muối
tiêu, râu cũng hoa râm, và cũng cao cỡ đó. Các
ông có chi tiết nào khác nữa không?
- Hắn mặc bộ quần áo mầu xám rộng thùng thình,
một cái áo khoác màu vàng, ngắn và đội một cái
mũ mềm.
- Còn về khẩu súng?
- Một khẩu súng dài có 65 phân có thể xếp được
hoàn toàn trong chiếc va ly, và giấu dưới áo khoác.
- Thế bây giờ các ông định ráp những tin tức mới
này vào khung cảnh của vụ án như thế nào?
Mac Dona trả lời:
- Hiện nay, chúng ta chỉ mới biết có một người
Mỹ, tên là Har, ngày hôm kia đến Tunbridge Wells
với một chiếc xe đạp và một cái valy. Trong valy
có một khẩu súng săn cưa nòng. Sáng hôm qua, hắn
đi xe đạp tới làng Birslstone và đã giấu khẩu
súng dưới áo khoác. Theo chỗ chúng ta biết, thì
không ai trông thấy hắn đến đây. Nhưng hắn cũng
không cần đi qua làng vẫn có thể đến được trước
cổng sắt của lâu đài. Con đường hắn đi cũng có
nhiều người cỡi xe đạp như hắn. Tôi đoán rằng,
hắn đã giấu ngay chiếc xe đạp trong những bụi
cây trúc đào. Bản thân hắn cũng nấp ở đó để rình
ông Du-gia ở lâu đài. ở trong nhà thì khẩu súng
săn đúng là bất lợi, nhưng ở ngoài trời thì nó
có hai ưu điểm rõ ràng: trước hết nó giết người
được một cách chắc chắn, sau nữa sẽ không có ai
để ý đến tiếng nổ, trong một vùng nông thôn có
nhiều người đi săn.
- Rất rõ ràng. - Holmes nói.
- Nhưng ông Du-gia lại không ra khỏi lâu đài.
Vậy thì tên sát nhân có thể làm gì được bây giờ?
Hắn bỏ chiếc xe đạp ở đó và chờ sẩm tối mới lần
mò vào gần lâu đài. Hắn thấy cây cầu rút vẫn còn
hạ xuống mà xung quanh thì vắng vẻ cả. Hắn liều
đi vào, và chắc là có chuẩn bị trước một lý do
gì đó để xin lỗi nếu có gặp người ở trong nhà.
Hắn không gặp ai cả. Hắn lẻn vào cái phòng gần
nhất và trốn sau bức rèm cửa. ở đó, hắn trông
thấy cây cầu được rút lên, và hắn hiểu rằng sẽ
phải lội qua hào để trốn ra. Hắn đợi đến 11 giờ
15. Đến giờ này, ông Du-gia bước vào buồng. Hắn
giết ông ta và chạy trốn. Hắn biết rằng chiếc
xe đạp của hắn có thể bị những người trong khách
sạn nhận ra được, vì thế hắn đã bỏ nó lại, và
dùng một phương tiện giao thông khác để trở về
Luân Đôn.
- Rất rõ ràng. Nhưng tôi lại tin là án mạng đã
xảy ra nửa giờ sớm hơn là người ta đã nói với
chúng ta. Rằng bà Du-gia và ông Bar đã cùng nhau
che giấu một cái gì đó, đã giúp đỡ cho tên sát
nhân trốn thoát, đã tạo ra những dấu vết để làm
cho người ta tưởng là nó đã trốn qua đường cửa
sổ, và có nhiều khả năng là họ đã hạ cây cầu rút
xuống cho nó trốn.
Hai nhà thám tử của nhà nước gật gù. ông thanh
tra Dona nói:
- Nếu cách nhìn của ông mà đúng, thì chúng ta
chỉ chuyển từ một bí mật này sang một bí mật khác
thôi.
Maso bổ sung:
- Nhưng về một số mặt nào đó thì lại vấp phải
một bí mật gay go hơn nữa. Bà Du-gia chưa hề sang
Mỹ. Vậy thì bà có thể liên hệ như thế nào với
một tên sát nhân người Mỹ?
- Tôi công nhận là có rất nhiều khó khăn. Tôi
dự tính tối nay sẽ tiến hành cuộc điều tra theo
cách riêng của tôi.
- Chúng tôi có thể giúp ông được không, ông Holmes?
- Không. Chỉ cần bóng tối và chiếc ô của bác sĩ
Watson thôi, ông Am sẽ giúp tôi một vài điều.
Khi Holmess trở về phòng trọ, thì đêm đã khuya
lắm rồi. Lúc Holmes mở cửa vào phòng, tôi hỏi
nhỏ:
- Thế nào Holmes, có thấy gì không?
Holmes cầm một ngọn nến, cúi xuống thì thầm vào
tai tôi:
- Anh có sợ khi phải ngủ chung phòng với một thằng
điên không?
- Không.
- ồ, thế thì hạnh phúc cho anh đó.
Thế rồi không nói thêm một lời nào nữa, anh ta
chui vào chăn...
(Hết Chương 6 ... Xin xem tiếp
Chương 7) |