Tôi về lại Đo Đo làm ông giáo
làng. Tôi dạy ở trường tiểu học năm nào và trở thành đồng
nghiệp của cô Thung và của các thầy cô trước đây từng dạy dỗ
tôi . Các thầy cô cũ thấy tôi về, mừng lắm. Hôm đầu tiên, cô
Thung nhìn sững tôi và kêu lên mừng rỡ:
- Ôi, thầy Ngạn đó hả ? Trông thầy khác hồi nhỏ dữ a !
Cách xưng hô của cô Thung khiến tôi ngượng đỏ mặt. Tôi bối rối
nói:
- Cô đừng gọi em là thầy! Cô cứ kêu em bằng em như hồi xưa! -
Bỗng dưng tôi nhớ tới kỷ niệm ngày nào và buộc miệng - Hồi xưa
em vẫn thường tranh nhau đi ... rót nước cho cô!
Cô Thung mỉm cười:
- Chuyện cũ, thầy nhắc làm chi! Hồi xưa khác, bây giờ khác!
Hồi xưa thầy đi học, còn bây giờ thầy đi dạy, làm sao tôi kêu
thầy bằng em được!
Trước lý lẽ cứng nhắc của cô, tôi đành xuống nước:
- Vậy thôi, cô kêu em bằng tên! Cô đừng kêu bằng thầy, em áy
náy lắm!
Cô Thung suy nghĩ một lát rồi gật gù:
- Vậy cũng được! Tôi sẽ kêu Ngạn là Ngạn!
Tôi mừng quýnh. Từ đó, các thầy cô trong trường đều bắt chước
cô Thung, gọi tôi bằng tên. Tôi là cái thằng Ngạn ngày xưa,
trùm đánh nhau, chúa bị phạt, bữa nào đi học về cũng rách quần
rách áo, bươu cổ u đầu, nay đi học mấy năm về, tự nhiên được
xếp ngang hàng với thầy cô kính mến ngày xưa, tôi đâu dám.
Tôi nhớ chuyện ông Các-nô ngày xưa, làm tới đại tướng, về làng
không quên ghé thăm thầy cũ. Thầy giáo già đang dạy học trò,
thình lình thấy một ông tướng oai vệ bước vào, cầu vai sáng
lóe, vội vã nghiêm chào . Ông tướng liền ngả nón, vòng tay
kính cẩn: "Thưa thầy, con là học trò Các-nô ngày xưa đây ạ!".
Tôi cũng vậy . Tôi là trò Ngạn ngày xưa . Bên cạnh các thầy cô
thuở thiếu thời, tôi luôn luôn là chú học trò nhỏ. Chú học trò
ấy, bây giờ mới qua tuổi hai mươi .
Khi tôi về làng, trường tiểu học
đã mở thêm lớp một. Lớp một hút gần hết trẻ con trường thầy
Phu. Học trò loe hoe, thầy dạy nấn ná thêm một thời gian, rồi
đóng cửa trường. Dù sao, thầy cũng đã già, sức khỏe không còn
được như xưa. Bây giờ thầy ngồi nhà dạy kèm dăm ba đứa trẻ,
sống qua ngày.
Hôm tôi ghé thăm, thầy Phu không nhận ra tôi. Tôi xưng tên,
thầy mới nhớ. Thầy kéo chiếc kính lão xệ xuống sống mũi, nhìn
tôi trân trân, giọng xúc động:
- Ngạn đấy ư ? Em về từ?ôm nào ?
Tôi nhìn nụ cười lấp lánh những chiếc răng vàng của thầy, lòng
bồi hồi khôn tả. Ngày xưa, ngày xưa bỗng hiện về. Sao tôi cứ
nhớ mãi ngày xưa ?
- Thưa thầy, em mới về ! - Tôi đáp khẽ.
Thầy đặt tay lên vai tôi:
- Em về chơi được bao lâu ?
Tôi chớp mắt:
- Thưa thầy, em về luôn. Em về dạy ở trường tiểu học làng mình.
Nghe vậy thầy vui vẻ hẳn lên:
- Hay lắm, em chọn nghề dạy học ! Đó là một nghề khó nhọc
nhưng cao quí em ạ !
Tôi dạ khẽ. Thầy lại gật gù:
- Nghe em về dạy học ở làng, thầy rất ngạc nhiên. Khi trưởng
thành, không phải ai cũng quay về chốn cũ. Làng quê mình sỏi
đá nhiều hơn thóc gạo, nghèo khó muôn đời !
Giọng thầy bâng khuâng nghe buồn da diết. Lúc mới vào nhà,
không thấy chị Hạnh và thằng Hòa đâu, tôi định hỏi. Bây giờ,
nghe thầy nói vậy, tôi không hỏi nữa. Hai người con thầy hẳn
đã đi lập nghiệp phương xa. Tự nhiên tôi nhìn thầy thương cảm.
Sống cô quạnh giữa xế chiều của cuộc đời, thầy đã mất đi vẻ
quắc thước, nghiêm nghị ngày nào. Trước mặt tôi chỉ là một
tuổi già thui thủi, cuối đời ngồi lần đếm tháng ngày qua.
Khi chào thầy quay ra, tôi không giấu nổi tiếng thở dài, ngậm
ngùi, u uẩn.
Tôi đến chơi nhà Hà Lan khá
thường xuyên. Bây giờ trong căn nhà phên tre mái lá ấy có thêm
một nhân vật mới: Trà Long.
Khi Trà Long được một tuổi rưỡi thì Hà Lan gửi nó về ở với ông
bà ngoại. Được bà cô cấp vốn mở tiệm may, Hà Lan bận bù đầu.
Vừa đi học may, vừa chạy thuê nhà, lại phải lo chiêu mộ thầy
thợ, Hà Lan không có thì giờ chăm sóc Trà Long, đành giao cho
bà ngoại.
Lúc tôi về, Trà Long đã gần hai tuổi. Nó giống hệt mẹ, xinh
xắn, dễ thương, đôi mắt đẹp di truyền ba thế hệ. Nhờ có nó bi
bô suốt ngày, căn nhà đỡ trống vắng. Mẹ Hà Lan hẳn đã vùi
xuống đáy lòng nỗi khổ tâm năm nào. Mỗi lần đến chơi, bao giờ
tôi cũng bắt gặp bà vui vẻ đùa giỡn với cháu.
Tôi trở thành người bạn trai đầu đời của Trà Long, như trước
đây bà tôi đã từng là bạn gái của tôi. Ba Hà Lan ít khi nựng
cháu, ông có những mối quan tâm riêng. Thương Trà Long, ông
chỉ biểu lộ tình cảm của mình bằng ánh mắt âu yếm thầm lặng.
Thường thường, ông chọc cho nó cười và trong khi nó cười chưa
dứt, ông bỏ ra sau hè với chiếc liềm hoặc những bó mạ trên tay.
Tôi thương Trà Long với một tình thương đặc biệt. Nó là hóa
thân nhỏ bé bỏng của Hà Lan. Nó là sự nối dài số phận không
may của mẹ nó. Ngay từ lúc lọt lòng, nó đã là đứa trẻ không
cha và mới hơn một tuổi đã sớm rời khỏi vòng tay mẹ. Ngôi sao
bản mệnh của cháu nằm lẩn khuất nơi đâu giữa bầu trời thăm
thẳm, đêm đêm chú mỏi mắt dò tìm sao chẳng thấy ? Cứ mỗi lần
ngồi lặng ngắm Trà Long dạo chơi quanh quẩn bên bộ ván, lòng
tôi không khỏi bâng khuâng.
Trà Long khoái cỡi ngựa, tôi chỏi hai tay hai chân, nằm bẹp
xuống nền nhà, bò loanh quanh cho nó ngồi ngất ngưỡng trên
lưng. Trà Long khoái xem trò, tôi lấy nhọ nồi bôi đầy mặt, giả
làm khỉ, làm cọp, làm mèo. Tôi gầm gừ, tôi kêu meo meo, khọt
khẹt, nó thích lắm, cười ngặt nghẽo.
Trà Long đòi đi chơi, tôi cõng nó trên lưng, dạo khắp làng.
Ban đêm, tôi cõng nó ra chợ, rảo khắp các hàng quán, mua cho
nó những con thú sặc sỡ bằng bột để sung sướng nhìn nó nắm khư
khư như những con thú trong tay với vẻ mặt thích thú.
Hôm nào, bọn người bán thuốc dạo ghé làng, hai chú cháu lại
chen chúc giữa vòng tròn người bao quanh gốc bàng già giữa chợ,
mải mê xem những trò biểu diễn kỳ quặc và đầy xúc cảm. Những
lần như vậy, khi rời khỏi chợ bao giờ Trà Long cũng ngoẹo cổ
ngủ trên vai tôi tự hồi nào. Những lúc ấy, tôi cố đi thật chậm,
sợ Trà Long thức giấc và trong khi thận trọng đếm từng bước
chân, tôi lại nhớ Hà Lan ray rứt.
Lần trước tôi về, Dũng và
Bích Hoàng đã cưới nhau được mười ngày. Gặp tôi, Hà Lan khóc
như mưa, người tôi ướt đẫm. Quê tôi lắm bão lụt, lần này tôi
về ngồi bên cho nước mắt em dâng ngập lòng tôi.
Nước mắt dẫu đầy như biển khơi, khóc hoài cũng hết. Khóc một
hồi, Hà Lan thôi nức nở, ngồi ngó tôi. Tôi nhìn nó, không nói
một lời. Tôi thấy buổi chiều đang dâng lên trong mắt biếc kia.
Tôi thấy hồn nó lặng thinh, câm nín.
Lần đó, tôi ở nhà bà cô Hà Lan suốt ba ngày. Bấy giờ sự sang
trọng hay nghèo hèn đối với tôi không còn ý nghĩa gì nữa. Tôi
chỉ muốn Hà Lan thôi sầu tủi. Tôi không thể ở nhà cậu Huấn, dù
Dũng không có nhà. Nó và Bích Hoàng đã tếch đi Đà Lạt. Tôi
cũng không thể ở nhà chị Nhường. Chị lải nhải suốt ngày khiến
tôi phát điên:
- Sao Ngạn không về sớm dự đám cưới anh Dũng ? Đám cưới lớn
lắm !
Trong ba ngày ít ỏi sống bên nhau đó, tôi và Hà Lan không nhắc
đến Dũng một lời. Chúng tôi đùa giỡn với bé Trà Long. Tôi đưa
hai mẹ con đi chơi đây đó cho khuây khỏa. Chúng tôi chỉ nói
với nhau về chuyện học tập, về những dự định tương lai. Tất cả
chỉ có thế, cho đến ngày tôi trở lại Qui Nhơn. Trước lúc chia
tay, tôi chỉ nói mỗi một câu:
- Hà Lan hãy cố gắng ! Hãy nghĩ đến Trà Long !
Hà Lan gật đầu, đôi mắt u buồn vương vấn. Nó không tiễn tôi ra
bến xe. Nó chỉ đứng tựa cửa trông theo. Mười tám tuổi, nó đã
lâm vào nghịch cảnh, tôi vừa giận lại vừa thương nó, bữa ra đi
cứ dục dặc dùng dằng.
Cho đến lúc ra trường, tôi không về lại thành phố thêm một lần
nào. Tôi ở xa, gửi thư thăm hỏi. Hà Lan trả lời, thư có thư
không, những trang giấy đã thôi nhòe nước mắt. Điều đó giúp
tôi yên tâm học tập. Tôi ở Qui Nhơn, đêm nằm nghe tiếng biển,
trong cơn mơ tôi thấy tôi trở về cố xứ, dạy học trò.
Một năm sau, tôi về thật. Tôi về giữa mùa phượng vĩ, bỏ lại
sau lưng hai năm lủi thủi học hành. Tôi ghé thăm Hà Lan, không
thấy Trà Long đâu. Tôi hỏi, nó bảo nó gửi Trà Long về ngoại.
Những ngày này, Hà Lan tất bật. Ngược xuôi chuẩn bị cho việc
mở tiệm may, nó không có thì giờ lo cho con. Nó cũng không có
thì giờ trò chuyện với tôi. Tôi ở xa về, ôm trong lòng hai năm
thương nhớ mà chẳng thể giãi bày. Tôi đạp xe ra ngoại ô, một
mình một bóng, ngồi lặng lẽ bên chân cầu năm nào nhìn nước
chảy, thấy tình mình cuốn trôi đi.
Nhưng tôi không trách Hà Lan. Nó quên nỗi buồn, nó vượt qua
hoàn cảnh éo le để vui cùng công việc, tôi mừng cho nó. Những
bóng mây thôi giăng mờ mắt biếc, thương một người, tôi còn
mong mỏi gì hơn ! |