Hồi còn học vỡ lòng, vì bênh vực
Hà Lan, tôi đã hạ gục thằng Hòa và sau đó tôi đã bị thầy Phu
phạt đến ngất xỉu giữa sân trường. Tôi đã tham gia những trận
đánh long trời trong vườn ông Cửu Hoành để giành lấy cho Hà
Lan những trái thị hiếm hoi . Bây giờ, để thỏa mãn ý thích của
Hà Lan, tôi lại nện nhau nhừ tử vì cái dùi trống.
Nhưng không phải chỉ có vậy . Suốt những tháng năm thơ ấu, đi
bên cạnh Hà Lan, tôi đã biết bao nhiêu lần vào sinh ra tử,
người đầy thương tích.
Có ai đó đã đem khoe với Hà Lan những cái trứng chim. Những
cái trứng chim sẻ xinh như những viên cuội tròn thỉnh thoảng
chúng tôi vẫn nhặt được ở ven bờ suối Lá. Hà Lan liền nói với
tôi nó muốn có những cái trứng chim giống hệt như vậy . Tôi
liền nói với nó chuyện đó dễ ợt.
Thế là trưa chủ nhật nắng chang chang, đợi cho ba mẹ tôi ngủ
say, tôi rón rén leo xuống khỏi giường, nhón gót đi ra cửa và
chạy vù xuống nhà Hà Lan. Nó dẫn tôi ra sau hè và tôi nhìn
thấy cái thang đang dựng cạnh đống rơm cao ngất kế chuồng bò.
Mỗi đứa một đầu, chúng tôi khệ nệ vác cái thang đến trường. Đi
đường lớn sợ bị người quen bắt gặp, méc lại với ba tôi, tôi
dẫn Hà Lan men theo những bờ ruộng lồi lõm. Chúng tôi đi té
lên té xuống, bùn văng đầy mặt nhưng lòng đầy háo hức.
Đi một hồi, đến trường, Hà Lan ngồi dựa lưng vô tường nghỉ mệt,
còn tôi thì đi tìm tổ chim. Ngày nghỉ, các lớp học vắng hoẹ
Tôi đi rảo dọc theo những bờ tường, mắt nhìn chăm chăm lên đầu
hồi . Chim sẻ thường làm tổi trên đầu hồi . Chỗ nào có tổ chim
sẻ, chỗ đó bao giờ cũng có rơm rác lòi ra ngoài . Chúng không
biết che giấu chỗ ở của mình như những loài chim khác.
Tìm được tổ chim, tôi và Hà Lan vội vã khiêng thang dựng vào
tường. Xong, Hà Lan giữ chân thang, còn tôi leo lên. Phần lớn
tổ chim đều có trứng. Điều đó khiến tôi vô cùng mừng rỡ. Tôi
cẩn thận nhặt từng trứng một bỏ vào túi áo rồi tuột xuống đất.
Hà Lan đem sẵn một túi ny-lông. Nó bỏ tất cả trứng vào đó.
Tôi trèo lên hết ổ chim này đến tổ chim khác. Túi ny-lông trên
tay Hà Lan chẳng mấy chốc đã đầy những trứng là trứng. Hà Lan
rất sung sướng. Nó cười luôn miệng. Nhưng dù Hà Lan không cười,
tôi cũng đọc được điều đó trong đôi mắt long lanh của nó và
trong cách nó đong đưa cái túi trên tay .
Hà Lan không phải bao giờ cũng hoàn thành nhiệm vụ được như
tôi . Tôi giao nó giữ chân thang và dặn nó giữ thật chắc để
tôi trèo lên. Nhưng lắm lúc, khi tôi vươn người qua phải hay
qua trái để thò tay mò mẫm trong các tổ chim nằm sâu dưới mái
ngói, cái thang bỗng nhiên chao qua chao lại và cuối cùng ngã
chổng kềnh, lôi cả tôi theo khiến tôi té đập đầu xuống đất,
trán sưng vù.
Những lúc đó, Hà Lan hốt hoảng chạy lại . Nó đỡ tôi dậy và sờ
tay lên trán tôi, lo lắng hỏi:
- Ngạn té đau không?
Tôi đau đến buốt óc nhưng cố ra vẻ thản nhiên:
- Không đau .
Hà Lan ngạc nhiêu:
- Trán u một cục mà không đau ?
Tôi hốt hoảng sờ tay lên trán:
- U một cục hả ?
- Ừ.
- Lớn không?
- Lớn.
Tôi rờ rẫm cục u một hồi rồi thở dài:
- Bây giờ tao mới thấy đau! - Và tôi vội vã nói thêm - Nhưng
mà đau sơ sơ .
- Để Hà Lan xức dầu cho Ngạn nghen!
- Dầu đâu ?
- Dầu đây nè!
Vừa nói, Hà Lan vừa lấy từ trong túi áo ra một lọ dầu cù là.
Nó mở nắp, quẹt dầu bôi lên trán tôi .
Tôi lim dim mắt, mắt cảm động hỏi:
- Dầu của ai vậy ?
- Của mẹ Hà Lan.
- Bộ lúc nào mày cũng bỏ lọ dầu trong túi hả ?
Hà Lan cười:
- Đâu có ! Hồi nãy, trước khi đi, Hà Lan mới lấy lọ dầu đem
theo . Hà Lan biết thế nào Ngạn cũng bị u đầu .
Tôi bĩu môi:
- Xạo đi mày ! Làm sao mày biết được?
- Biết chứ ! Ngạn chuyên môn đánh nhau, lại chúa hay té, thế
nào chẳng u đầu !
Hà Lan nói đúng quá, tôi hết đường cãi, đành phân trần:
- Nhưng hôm nay tao té là tại mày chứ bộ ! Có mỗi một việc giữ
thang mà mày làm cũng không ra hồn !
Trước sự hăng hái kết tội của tôi, Hà Lan xụi lơ:
- Ừ, tại Hà Lan.
Ánh mắt buồn bã của nó khiến tôi xốn xang khôn tả. Tôi bối rối
nói:
- Thực ra thì... không phải tại mày đâu ! Cái thang đổ là do
tao . Tao cứ nhoài tới nhoài lui .
Thấy tôi sẵn lòng xóa tội cho nó, Hà Lan mừng lắm. Niềm vui
của nó khiến tôi vui lây . Tôi liền hào hứng:
- Bây giờ mày ráng giữ thang cho chắc, tao trèo lên lấy trứng
tiếp.
Hà Lan chớp mắt:
- Ngạn còn u đầu kia mà !
Tôi cười:
- Không sao đâu ! Tao hết đau rồi .
Thế là tôi lại tiếp tục trèo lên các tổ chim. Hà Lan lần này
cẩn thận hơn, nó mím môi ôm chặt chân thang. Nhưng chỉ được
một lát sau, tôi vừa nhúc nhích, cái thang lại nghiêng qua một
bên, hất tôi xuống. Nhưng tôi không bị dập trán. Mà dập mũi,
máu chảy thành dòng.
Tôi lại phải nằm lăn ra đất, mặt ngửa lên trời, cho Hà Lan hái
lá nhét đầy hai lỗ mũi .
Hà Lan nói đúng, tôi là chúa
đánh nhau, chúa leo trèo, chúa té ngã. Chơi với tôi một thời
gian Hà Lan trở thành một người nữ cứu thương bất đắt dĩ.
Năm học lớp năm là năm tôi đánh nhau dữ dội nhất. Chuyện đánh
nhau lúc bấy giờ đã trở thành chuyện cơm bữa . Chúng tôi đánh
nhau hàng ngày và dường như suốt năm học cuối cùng ở bậc tiểu
học, đánh nhau là trò chơi duy nhất của chúng tôi .
Ngay từ đầu năm, lớp đã chia thành hai phe . Một phe do thằng
Toản cầm đầu, một phe do tôi làm thủ lĩnh. Ngày nào chúng tôi
cũng đến trường thật sớm, trước giờ vào học cả tiếng đồng hồ.
Quẳng tập lên bàn, chúng tôi kéo nhau ra sân và lao vào đánh
nhau . Chúng tôi quần thảo túi bụi, thủ lĩnh so tài với thủ
lĩnh, quân sĩ so tài với quân sĩ. Chúng tôi vừa đánh vừa rượt
nhau quanh sân, bụi bay mù trời, tiếng bọn con gái thét the
thé. Đến khi tiếng trống vào học vang lên, trận chiến mới tạm
lắng dịu để rồi bùng nổ dữ dội hơn vào giờ ra chơi . Quả thật,
chúng tôi không làm sao chấm dứt được cái trò chơi khủng khiếp
và đầy tính đàn ông này, nhất là một khi nó được bắt đầu một
cách tốt đẹp đến mức không một đứa nào trong chúng tôi giữ
mình được lành lặn trong ngày đầu ra quân.
Trong thời kỳ chiến tranh ác liệt đó, Hà Lan là một cánh tay
đắc lực của tôi . Khi tôi lên đường ra trận, nó ngồi trong lớp
giữ cặp, giữ dép và giữ aó cho tôi . Khi tôi quay về, dù bại
trận hay thắng trận người vẫn đầy những vết xây xát và những
vết bầm, Hà Lan lại loay hoay xức thuốc cho tôi . Lúc bấy giờ,
Hà Lan không chỉ bỏ theo người lọ cù là mà trong cặp nó có đủ
cả bông băng, thuốc tím, dầu khuynh diệp... hệt như một cái
túi cứu thương. Chỉ thiếu mỗi chai thuốc đỏ. Tôi không xức
thuốc đỏ. Tôi không dại gì đánh dấu trên người mình để lãnh
thêm những trận đòn của ba tôi, ngoài những cú đấm của phe
thằng Toản.
Năm học cuối cùng của tôi ở trường làng đã diễn ra như vậy .
Một bên là những trận đánh dai dẳng và đầy thương tích với
thằng Toản và đồng bọn, một bên sự săn sóc êm ái và dịu dàng
của Hà Lan.
Hồi đó, tôi rất biết ơn Hà Lan. Nhờ nó, những vết thương trên
người tôi rất chóng lành. Những vết thương thể xác bao giờ
cũng chóng lành. Có phải vậy không, Mắt Biếc?
Thi đậu vào lớp sáu, tôi và
Hà Lan ra trường huyện. Phân nửa học trò lớp năm ra trường
huyện. Những đứa thi rớt ở lại làng. Có đứa học đúp lại lớp
năm. Có đứa nghỉ học hẳn, ở nhà phụ giúp cha mẹ.
Tôi ra huyện, ở nhà bà Năm Tự, nơi cô Thịnh và chị Nhường đang
trọ học. Bà Năm Tự nom khá giống bà tôi, cũng nhỏ người, hiền
lành, miệng lúc nào cũng nhai trầu, cái ống nhổ luôn luôn nằm
dưới đầu giường. Những năm ở trọ nhà bà Năm Tự, tôi nhớ mãi
món canh rau dền. Trong vườn của bà, rau dền vô thiên lủng,
chúng mọc chen chúc với cỏ dại và sinh sôi nảy nở bất tận.
Chiều nào bà Năm Tự cũng cắp rổ ra vườn hái rau theo, nhưng
tôi không hái rau dền cùng bà. Tôi thích lùng sục trong các
bụi rậm để hái bông dủ dẻ hơn. Bông dủ dẻ màu vàng, cánh cứng,
lớn bằng đầu ngón tay cái, thơm lừng mùi dầu chuối . Bỏ một
bông dủ dẻ trong túi áo, ba ngày sau người còn thơm ngát.
Bà Năm Tự không cần tôi hái rau giúp bà. Rau dền mọc um tùm,
chỉ cần quơ tay ra là hái được cả nắm. Bà rủ tôi ra vườn là để
nói chuyện cho đỡ buồn. Chồng chết, con trai lớn đi lính ở tít
Ban Mê Thuột, bà sống thui thủi một mình, buồn hiu . Cô Thịnh
và chị Nhường nghe chuyện của bà chán rồi, không muốn nghe nữa,
bà quay sang trút nỗi buồn lên tôi . Dĩ nhiên chỉ có một mình
bà nói, còn tôi nghe, tiếng được tiếng mất. Tôi lơ đãng nghe
bà, mắt láo liên tìm bông dủ dẻ, còn chân thì khua khoắng các
bụi cỏ cho châu chấu bay ra từng đàn coi chơi .
Bà Năm Tự nấu canh ra dền rất ngon nhưng chiều nào cũng ăn món
đó, tôi đâm ngán. Tôi, cô Thịnh và chị Nhường liền chuyển sang
tấn công dĩa cá rô chiên và chén đậu phộng rang dầm nước mắm,
nhường tô canh lại cho bà. Bà Năm Tự chẳng hều phật ý về
chuyện đó. Chiều nào bà cũng lẳng lặng ăn hết một tô canh.
Suốt bốn năm tôi trọ ở nhà bà, hình ảnh kinh hoàng đó cứ lặp
đi lặp lại . Không một buổi chiều nào, trên mâm cơm vắng bóng
tô canh quỉ quái đó. Vậy mà lũ rau dền chết tiệt trong vườn
vẫn không chịu tàn lụi, chúng cứ mỗi ngày một tốt tươi .
Hà Lan không phải ở trọ như
tôi . Nó ở nhà ông chú. Chú nó chạy xe cho một hãng xe đò
thành phố, có đại lý ở huyện.
Nhà chú nó ở khác phía với nhà bà Năm Tự nên tôi và Hà Lan
không thể đi chung với nhau như hồi còn học ở trường làng.
Đến lớp, chúng tôi cũng không còn dịp ngồi cạnh nhau nữa . Ở
trường trung học, con trai ngồi riêng, con gái ngồi riêng. Hà
Lan ngồi ở bàn đầu dãy bên trái, tôi ngồi ở bàn cuối dãy bên
phải, cách nhau như mặt trời mặt trăng.
Lên lớp sáu, chúng tôi lại phải mặc đồng phục. Con gái mặc áo
dài trắng. Con trai áo trắng quần xanh, áo bỏ vô quần, gài dây
nịt hẳn hoi . Cách ăn mặc chững chạc khiến chúng tôi lớn hẳn
lên. Điều đó đối với tôi quả là một tai họa . Khi trở thành...
người lớn, bọn con gái đâm ra không thèm chơi chung với đám
con trai nữa . Hà Lan cũng vậy . Giờ ra chơi nói cứ lẽo đẽo đi
theo đám bạn gái của nó, túm tụm dưới những hàng dương liễu
chạy dọc theo hàng rào quanh trường. Đó là sân chơi bất di bất
dịch của bọn con gái, còn bọn con trai chúng tôi thì tung
hoành trên khoảng sân mênh mông còn lại .
Suốt quãng đời trung học, Hà Lan ngày nào cũng ngồi lẫn trong
những tà áo trắng dưới gốc dương liễu, bỏ mặc tôi với những
buồn vui không người bày tỏ, những ước mơ xa vời và những trận
đánh nhau ngày càng hiếm hoi nhưng không thiếu những vết bầm
đáng giá, luôn luôn hoài vọng bàn tay chăm sóc năm nào .
Chỉ có những ngày cuối tuần, trở về thăm làng, tôi và Hà Lan
mới trở lại là đôi bạn ngày xưa còn bé.
Chiều thứ bảy nào cũng vậy, cứ đến khoảng năm giờ là ba tôi
chạy xe gắn máy ra huyện đón tôi về. Đến tuần thứ ba thì mẹ Hà
Lan nhờ ba tôi đón giúp cả Hà Lan. Đối với tôi, đó là một ngày
đáng nhớ.
Dĩ nhiên Hà Lan không chịu ngồi chung với tôi ở yên sau . Nó
mắc cở, điều trước đây chưa từng có. Tôi đành nhường yên sau
cho nó, lên ngồi đằng trước với ba tôi .
Tôi ngồi nhấp nhổm như con cóc, chân đạp vào sườn xe, tay bám
chặt ghiđdông, lòng cứ lo nơm nớp. Tôi sợ té dọc đường. Té khi
xe đang chạy, chắc chắn không chỉ u đầu và dập mũi . Mà tôi sẽ
nằm quay lơ ra đất, chết thẳng cẳng. Nhẹ nhất cũng què tay
hoặc quẹo cổ, Hà Lan sẽ nghỉ chơi với tôi . Nghĩ vậy, tôi gồng
mình nắm khư khư cái ghiđdông, tay mỏi nhừ. Tôi cứ nắm như thế,
mãi đến tận rừng Sim.
Rừng Sim nằm ở ven làng, cách giếng Cây Duối non bốn cây số.
Bao giờ về ngang rừng Sim, ba tôi cũng dừng lại, để xe bên vệ
đường và dắt tôi và Hà Lan vào rừng hái sim.
Có khi tôi và Hà Lan để mặc ba tôi đi sâu vào rừng hái sim một
mình, chúng tôi lon khom đi tìm bông dủ dẻ hoặc tìm hái những
trái chà là trên những cành nhánh đầy gai . Gai chà là chích
đau thấu xương, khi chảy máu tôi thường đưa ngón tay lên miệng
ngậm, về đến nhà vần còn buốt.
Tôi và Hà Lan đều thích bông dủ dẻ, đứa nào cũng mê mùi thơm
của nó. Riêng về khoản chà là, chỉ có mình tôi thích. Thỉnh
thoảng, mẹ tôi vẫn mua chà là ngoài chợ về cho tôi . Chà là
ngoài chợ người ta bán từng lon. Mình tôi ăn một lon, vẫn còn
thèm, vẫn thấy như ... chưa ăn gì. Hà Lan lại khác, nó chê chà
là tối mày tối mặt. Nó bảo trái chà là toàn hột là hột, ăn
chán bỏ xừ. Nó khoái những trái trâm hơn.
Rừng Sim quê tôi trâm mọc rải rác. Thân trâm cao, mảnh, đàn bà
con gái trong làng vào rừng nhặt củi, bao giờ cũng thích tha
về những cành trâm khô gãy . Trái trâm mọc thành từng chùm,
tím như thuốc nhuộm, ăn vào miệng một hồi, miệng tím như ngậm
mực.
Hà Lan thích trâm, tôi trèo lên cây, hái từng chùm trái liệng
xuống cho nó. Nó bứt từng trái bỏ vào miệng nhằn lấy nhằn để.
Trái trâm cũng chín phần hột một phần cơm, còn "chán bỏ xừ"
hơn trái chà là, không hiểu sao Hà Lan lại thích. Nhưng tôi
chẳng thèm thắc mắc, hễ Hà Lan thích là tôi phải chiều .
Tôi đóng vai con khỉ trèo cây, mê mải hái, đến khi tụt xuống
đất, ngoảnh lại thấy Hà Lan lạ hoắc. Nó cười với tôi bằng đôi
môi và hàm răng tím ngắt. Tôi bảo nó thè lưỡi ra, lưỡi nói hệt
lá chuối nước.
Ba tôi bước ra thấy vậy, hoảng hồn. Không dám chở Hà Lan về
nhà với dung nhan như vậy, ba tôi chở thẳng nó về nhà tôi, bắt
nó lấy nước súc miệng rửa mặt sạch sẽ mới đưa nó về với mẹ nó.
Bà tôi hỏi tôi:
- Hà Lan sao vậy cháu ?
Tôi cười:
- Nó ăn trâm.
- Trâm ở đâu mà ăn?
- Trâm cháu hái cho nó. Cháu hái ở trong rừng Sim.
Bà tôi không hỏi nữa . Tự dưng bà nói:
- Con bé đó dễ thương.
Còn tôi cũng tự dưng hùa theo:
- Đôi mắt nó giống hệt đôi mắt ba nó, bà ạ !
Tôi nói không rõ ý lắm nhưng bà tôi hiểu tôi muốn khen đôi mắt
của Hà Lan. Bà gật đầu va nói, giọng xa vắng:
- Nhưng dù sao đời nó sẽ khổ.
Những tiếng cuối cùng, bà hạ giọng nhưng tôi vẫn nghe rõ.
Không hiểu sao, tôi lại buột miệng:
- Lớn lên, cháu sẽ cưới nó làm vợ, bà ạ !
Bà tôi giật mình và nhìn tôi một thoáng. Ánh mắt của bà cho
tôi biết rằng bà xem điều tôi vừa nói là một ý định đứng đắn
và chững chạc. Một lát, bà nói, giọng nghiêm trang:
- Bà cũng mong như vậy .
Đến bây giờ, mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn không cắt nghĩa được tại
sao lúc đó tôi lại nói với bà tôi nhừng lời như vậy và tại sao
bà tôi cũng lại nói với tôi những lời như vậy . Tuy nhiên đó
là lần duy nhất hai bà cháu tôi trò chuyện với nhau như những
người bạn lớn. Và dẫu là lần duy nhất, tôi không bao giờ quên.
Cả bà tôi cũng vậy . Tôi biết bà vẫn nhớ như in những mong mỏi
của bà. Cho đến lúc nhắm mắt, có lẽ bà vẫn tin rằng khi vắng
bà, những chuyện còn lại trên mặt đất vẫn sẽ êm đẹp như lòng
bà hằng muốn. |