Thỉnh thoảng tôi dẫn Trà Long
vào rừng hái sim. Tôi len lỏi giữa những bụi sim hoa tím. Tôi
len lỏi giữa những kỷ niệm.
Trà Long đi bên cạnh tôi, hồn nhiên, sung sướng. Mỗi lần tìm
thấy một trái sim chín mọng đang ranh mãnh giấu mình sau cành
lá lòa xòa, nó reo lên hớn hở.
Tôi hái cho Trà Long đầy cả hai túi sim. Nó vừa đi vừa ăn,
thoáng chốc đã hết. Tôi lại phải hái cho nó đầy hai túi khác.
Có lúc, thừa dịp tôi quay mặt đi, Trà Long lén hái hoa cài lên
mái tóc rồi kêu:
- Chú Ngạn!
Tôi giật mình ngoảnh lại và sững sờ khi thấy Trà Long giống
hệt Hà Lan xưa .
Trà Long nghịch ngợm hỏi:
- Chú thấy cháu có đẹp không?
Tôi mỉm cười:
- Đẹp lắm!
Nó lại nghiêng đầu hỏi:
- Cháu có giống bà tiên không?
Ý nó muốn nhắc đến những câu chuyện cổ tôi thường kể cho nó
nghe, những câu chuyện tôi học được của bà tôi . Tôi nhìn nó,
bâng khuâng:
- Cháu không giống bà tiên. Nhưng cháu giống hệt mẹ cháu hồi
nhỏ.
Trà Long chớp mắt:
- Sao chú cứ nhắc đến mẹ cháu hoài ?
Câu hỏi ngây thơ của Trà Long khiến tôi bối rối . Tôi chưa
biết trả lời sao, nó lại hỏi:
- Hồi nhỏ chú có dắt mẹ cháu vào rừng chơi không?
- Có ! - Tôi vội vã gật đầu .
- Chú có hái sim cho mẹ cháu không?
Tôi cắn môi:
- Có. Cả chú và mẹ cháu cùng hái .
Nó bỗng hỏi:
- Ai hái nhiều hơn?
Tôi ấp úng:
- Tất nhiên là ... mẹ cháu .
Trà Long nheo nheo mắt:
- Chú nói dối!
Tôi chỉ biết cười trừ:
- Thật ra thì...chú quên rồi!
Trà Long ngó tôi, vẻ nghi ngờ:
- Chú không quên. Cháu biết chú nhớ. Chú nhớ nhiều chuyện.
Rồi bỗng dưng nó lại gần, nắm lấy tay tôi:
- Chú nói cho cháu nghe đi!
Tôi hoang mang:
- Nói chuyện gì ?
Trà Long ngước nhìn tôi:
- Chuyện về mẹ cháu ấy ! Ba cháu đâu ?
Tôi nuốt nước bọt và thấy bóng mình in sững giữa hoàng hôn
buốt tím. Tôi đứng lâu thật lâu, tim thót lại . Trà Long lại
lắc lắc tay tôi:
- Chú nói đi! Ba cháu là ai ?
Tôi chép miệng:
- Tại sao cháu không hỏi bà ngoại ?
- Cháu hỏi rồi .
- Bà ngoại cháu bảo sao ?
- Bà ngoại bảo ba cháu chết rồi . Có đúng vậy không chú ?
Tôi tránh ánh mắt của Trà Long. Tôi nhìn về phía chân trời xa
nơi những cụm mây đang bốc cháy, khẽ thở dài:
- Ừ, ba cháu chết rồi .
Trà Long vẫn nhìn sững tôi:
- Chú nói thật không?
- Thật mà.
- Cháu không tin! - Trà Long vùng kêu lên - Người chết là phải
có bàn thờ. Nhà cháu đâu có bàn thờ.
Trà Long làm tôi khó xử quá chừng. Tôi chưa kịp nghĩ ra cách
đối phó, nó đã hỏi dồn:
- Chú nói thật đi ! Ba cháu đâu ?
Tôi vẫn cứ đứng trơ như phỗng, ruột rối tơ vò. Tôi chìm vào
suy tưởng, lâu thật lâu, Trà Long vẫn im lìm bên cạnh, thấp
thỏm chờ đợi . Quanh tôi, thời gian vẫn lầm lũi trôi qua và
buổi chiều đang lướt đi xào xạc, cánh áo mỏng của nó khẽ chạm
vào vai tôi hờ hững. Trong một thoáng, tôi bỗng bàng hoàng
hiểu rằng nếu tôi không cất tiếng, tôi sẽ đời đời câm nín và
hai chú cháu sẽ hóa đá trong mỗi phút giây thinh lặng nặng nề.
Tôi khẽ rùng mình và đặt tay lên bờ vai bé bỏng của Trà Long,
giọng xa vắng:
- Thôi, cháu đừng hỏi làm gì ! Lớn lên cháu sẽ hiểu tất cả !
Trà Long vùng vằng:
- Nhưng bây giờ cháu đã lớn rồi! Cháu học lớp năm!
Tôi mỉm cười và nhìn nó bằng ánh mắt âu yếm:
- Cháu chưa lớn đâu! Lớp năm hãy còn bé lắm!
Trà Long lập tức buông tay tôi ra, giọng giận dỗi:
- Chú nhất định không nói phải không?
Tôi cười khổ sở:
- Chú đã nói rồi . Cháu hãy hiểu cho chú ...
Không đợi tôi nói hết câu, Trà Long bỏ chạy ra ngoài bìa rừng.
Nó vừa phóng thoăn thoắt trên các mô đất nhấp nhô vừa ngoái cổ
lại nói:
- Chú không nói, cháu không thèm chơi với chú nữa đâu! Cháu về
nhà đây!
Tôi hốt hoảng chạy theo:
- Trà Long, đứng lại! Chờ chú với!
Nó vẫn cắm cổ chạy, vạt tóc thấp thoảng sau các bụi lá xanh.
Tôi đuổi phía sau, miệng kêu ơi ới:
- Trà Long! Lại đây chú chở về !
Trà Long vẫn không thèm ngoái lại . Nó bướng bỉnh hệt như mẹnó
xưa . Hồi đó, Hà Lan hờn giận, tôi phải năn nỉ cả ngày trời,
khổ ơi là khổ.
Đang chạy, thình lình Trà Long vướng phải một gốc cây cụt, ngã
lộn nhào . Tôi điếng người, nhảy bổ lại vội vàng đỡ nó dậy và
lo lắng hỏi:
- Cháu có đau lắm không, Trà Long?
Trà Long không trả lời . Mà nó gục đầy vào cánh tay tôi, rấm
rức. Tiếng khóc nó xuyên qua ngực tôi.
Thỉnh thoảng, Hà Lan vần về làng
thăm con. Mỗi lần về, nó ở quanh quẩn trong nhà, chẳng đi đâu
. Tôi đến chơi, nằm đu đưa trên võng, bồi hồi ngắm hai mẹ con
xúm xít bên nhau . Hà Lan hỏi con đủ chuyện, Trà Long trả lời
chẳng đâu vào đâu . Nó có vẻ kém hào hứng. Nó không thích
loanh quanh trong nhà. Nó muốn mẹ dẫn đi chơi nhưng Hà Lan lại
không hưởng ứng.
Trà Long không hài lòng mẹ, nó một mực kỳ kèo:
- Mẹ và chú Ngạn dẫn con vào rừng Sim chơi đi!
Hà Lan thở dài liếc tôi . Tôi hiểu, Hà Lan giờ đã khác. Tôi
chẳng mong đợi gì. Lòng nó bây giờ như chiếc lá khoai, tình
tôi mưa xuống, nghìn giọt rơi nghìn giọt chảy ra ngoài . Nó sợ
vào rừng Sim. Nó sợ kỷ niệm bủa vây . Trà Long giục nó hoài,
nó nhìn tôi cầu cứu .
Tôi nhỏm dậy, bảo Trà Long:
- Cháu muốn vào rừng chơi, chú sẽ dẫn cháu đi! Mẹ cháu mới ở
thành phố về còn mệt để cho mẹ cháu nghỉ !
Trà Long ngúng nguẩy:
- Cháu không chịu đâu! Cháu muối đi chơi với cả hai người kìa!
- Rồi nó nhe răng cười - Cháu đi giữa, mẹ một bên, chú Ngạn
một bên!
Trước đòi hỏi quá quắt của Trà Long, tôi chẳng biết nói sao,
bèn tìm cách lẻn ra khỏi nhà. Đi một quãng xa, tôi còn nghe
tiếng Trà Long gọi với theo:
- Chú Ngạn! Chú trốn cháu phải không? Cháu không thèm chơi với
chú nữa đâu!
Tôi cắn chặt môi, bỏ đi luôn.
Trà Long lên lớp sáu, ra
trường huyện. Ngày rời làng, nó khóc như mưa bấc, nước mắt nó
muốn trôi cả chợ Đo Đo . Nếu không có tôi đưa nó ra phố huyện,
đi nửa đường dám nó thổn thức quay về ngồi trước thềm nhà khóc
tiếp.
Ngày vào lớp một, Trà Long gan lì, đi từ nhà đến trường không
rơi một giọt nước mắt, sao hôm nay rời làng, lòng nó lắm mưa
bay . Hay nó giống như tôi, nó giống như ông ngoại nó, khúc
ruột liền với tình yêu quê xứ, mỗi bước ra đi là mỗi bước bận
lòng.
Ra đến huyện, đôi mắt Trà Long còn đỏ hoe . Tôi đưa nó đến nhà
ông chú chạy xe đò, nơi trước đây Hà Lan từng ở. Sắp xếp nơi
ăn chốn ở cho nó xong xuôi, tôi quay xe về làng.
Nhưng Trà Long không cho tôi về. Nó níu tay tôi, khẩn khoản:
- Chú ở chơi với cháu thêm một ngày nữa đi!
Tôi nhìn nó, thấy tội tội . Lần đầu tiên ra phố huyện, lạ cảnh
lạ người, chắc nó buồn lắm. Tôi gật đầu:
- Ừ, chú ở lại, mai về. Bây giờ chú chở cháu đi chơi một vòng
nghen!
Trà Long mừng lắm. Nó nhảy tót lên yên sau, ôm chặt lấy hông
tôi, mặt mày hớn hở:
- Chú chở cháu đi mấy vòng cũng được!
Tôi chở Trà Long ngang qua trường huyện. Trường vẫn như xưa .
Những dãy lớp đóng cửa im ỉm chờ ngày nhập học. Sân cỏ mênh
mông, uá vàng vì nắng hè và hàng dương liễu vẫn thướt tha dọc
hàng rào cát trắng.
- Trường cháu đây nè ! - Tôi nói .
- Ôi, trường đẹp quá hả chú ? - Trà Long kêu lên - Hồi nhỏ chú
và mẹ cháu cũng học ở đây phải không?
- Ừ ! - Tôi gật đầu và chỉ tay về phía hàng rào - Hồi đó mẹ
cháu hay ngồi chơi ở dưới gốc cây dương liễu này .
Nói xong, tôi giật mình. Tôi sợ Trà Long lại bảo: "Chú sao cứ
nhắc đến mẹ cháu hoài!". Nhưng Trà Long vẫn ngồi im sau lưng
tôi . Chắc nó đang tò mò ngắm nghía ngôi trường mới của mình.
Tôi ghé thăm bà Năm Tự. Thấy tôi, bà nhận ra ngay:
- Ồ, Ngạn đấy hả ? Lâu ghê mới gặp cháu! - Giọng bà mừng rỡ,
rồi không kịp để tôi nói gì, bà vồn vã hỏi tiếp - Sao, cháu đã
vợ con gì chưa ?
Tôi mỉm cười, lắc đầu:
- Dạ chưa .
Bà Năm Tự quay sang Trà Long:
- Vậy chứ đứa bé nào đây ?
- Dạ, đây là con gái Hà Lan.
- Phải Hà Lan là con bé hồi trước vẫn thường tới đây học chung
với cháu ? - Bà Năm Tự nắm tay Trà Long lại gần, xuýt xoa -
Chà, con gái lớn quá hén!
Tôi nhìn quanh nhà, ngập ngừng hỏi:
- Anh Nhân đâu rồi, bà ?
- Nó đi câu ngoài sông Ngang. Nó buồn đời, suốt ngày ngồi bên
bờ sông.
Anh Nhân là con trai bà Năm Tự. Anh đi lính tận Ban Mê Thuột,
đánh nhau què giò, bị cưa một chân, thành thương phế binh giải
ngũ về nhà. Ngày anh về, bà Năm Tự đốt nhang cảm ơn trờ phật:
"May mà nó không chết bờ chết bụi, cụt một chân đã là phúc,
còn dẫn xác về nhà với mẹ". Nhưng từ ngày đó, anh Nhân đổi
tính. Anh lầm lì, chẳng nói chuyện với ai, ngày nào cũng xách
cần câu ra đi từ sáng sớm, tối mịt mới về. Bà Năm Tự buồn lại
hoàn buồn. Khoái đi câu, ở làng tôi có thầy Cải khác anh Nhân.
Thầy Cải đi câu vì niềm vui, anh Nhân đi câu vì nỗi buồn.
Sau một hồi trò chuyện, bà Năm Tự kêu tôi vàTrà long ở lại ăn
cơm. Tôi một mực từ chối . Tôi không sợ món canh rau dền, tôi
chỉ sợ ngồi chơi lâu, bà Năm Tự buộc miệng hỏi thăm về ba của
Trà Long thì khốn.
Tôi chào bà Năm Tự, chở Trà Long về nhà. Tối đó, tôi ngủ lại
nhà ông chú nó. Tờ mờ sáng hôm sau, tôi đạp xe lặng lẽ về làng.
Khi tôi đi, Trà Long còn ngủ.
Từ ngày Trà Long ra phố huyện,
cuộc sống tôi trở nên quạnh quẽ. Tôi ngồi trên lớp dạy học trò,
nhìn đứa bé nào cũng nhớ tới Trà Long. Những buổi chiều càng
trống trải, dài lê thê . Hai mẹ con đi xuyên qua trái tim tôi,
mỗi người về mỗi ngã, tôi ở lại làng chiều chiều đếm lá bàng
rơi .
Đến nhà Trà Long, tôi chỉ biết leo lên võng nằm đọc sách. Đọc
sách chán, chẳng biết làm gì, tôi lại ôm đàn ngồi gảy tích
tịch tình tang dưới giàn hoa thên lý, nghe xưa cũng vọng về
như mộng mị:
Tôi nằm trong cỏ ngó ra
Bóng ai thấp thoáng như là sương rơi
Tưởng người trong mộng về chơi
Nào hay lãng đãng một trời mưa giăng.
Mưa giăng kín hồn tôi từ dạo ấy, tiếng đàn rung lên còn nghe
ẩm ướt, lạnh muôn trùng, dẫu từ hồi về làng đến nay, tôi ít
đụng tới cây đàn. Tôi treo đàn lên vách, chôn buồn thương
xuống đáy lòng, tình yêu của tôi dồn vào việc chăm sóc và dạy
dỗ Trà Long, hiện thân bé bỏng của người thương muôn thưở. Bây
giờ, Trà Long ra đi, lòng tôi bỗng dưng hiu quạnh. Nhìn tới
nhìn lui, chỉ còn cây đàn bụi giăng lớp lớp ở lại cùng tôi,
người bạn đường đã theo tôi suốt cuộc tình buồn.
Cứ vậy, ngày nào cũng như ngày nào, đọc sách chán tôi đem đàn
ra gảy . Đàn chán, tôi đi lang thang trong làng, đến thăm các
thầy cô và bạn bè cũ. Bạn bè năm xưa chẳng còn ai, mỗi đứa
trôi dạt một phương trời, cũng có lúc tình hoài hương níu đôi
người về lại nhưng cố xứ nghèo nàn chẳng giữ được ai lâu .
Thầy cô thì tuổi tác chất chồng, áo cơm nặng gánh, chẳng mấy
người lưu được nét xuân xưa . Thầy Cải trước đã hư một mắt,
con mắt kia nay mây cũng kéo lòa, đành chia tay suối Lá. Bây
giờ thầy ngồi nhà mò mẫm đan giỏ vừa kiếm miếng ăn vừa vui
ngày tháng xế. Cô Thung hết than khát nước đến than tức ngực,
nghi mình ho lao nên cũng đã giã từ bảng đen phấn trắng, bỏ
lại đám học trò nheo nhóc nhớ thương cô .
Trường thiếu người phải mời thầy Phu ra dạy . Hôm nhận được
tin, thầy xúc động rơm rớm nước mắt. Được dạy dỗ bọn trẻ con
là hạnh phúc của thầy . Hạnh phúc đó đã tan thành mây khói khi
trường tiểu học làng tôi mở thêm lớp một. Bây giờ hạnh phúc
đột ngột trở về, thầy Phu thay đổi hẳn. Nét khắc khổ trên mặt
thầy biến mất. Hôm gặp nhau trên trường, thầy bắt tay tôi thật
chặt, đôi mắt long lanh sau cặp kính lão . Tôi mừng cho thầy .
Tôi còn mừng hơn nữa khi thầy khoe:
- Thằng Hòa đã về rồi, Ngạn ơi!
- Về luôn hả thầy ?
- Ừ, lần này nó về luôn!
Thầy Phu đáp bằng một giọng phấn chấn. Trong hai đứa con của
thầy, chị Hạnh biệt tích giang hồ. Chi*. ở đâu tít mãi phương
Nam, lấy chồng, sinh con, lâu nay không thấy ghé về. Thằng Hòa
cũng bỏ xứ đi làm ăn. Gặp hết thất bại này đến thất bại khác,
nó than bất phùng thời và phẫn chí khăn gói về làng trồng cây
ăn trái . Thầy Phu kể với tôi như vậy . Và kết luận:
- Có nó bên cạnh cũng đỡ buồn!
Tôi nhìn thầy, chia xẻ. Cuộc đời đỡ buồn, còn mong mỏi nào hơn!
Buồn thầy đã đỡ. Còn buồn tôi, biết đến bao giờ ? |